Theo chuyên gia, hiện tỷ lệ tín dụng GDP năm 2025 đã ở mức 146%, thuộc hàng cao so với các nước phát triển cùng trình độ, chính sách tiền tệ nên hướng đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất và tỷ giá, khống chế nợ xấu và đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Để đạt được mục tiêu này, tốc độ tăng trưởng cung tiền và tín dụng của Việt Nam cần được kiểm soát ở mức hợp lý, không để tỷ lệ tín dụng/GDP tăng nhanh và mạnh, vừa tạo áp lực lên giá cả, đồng thời làm tăng rủi ro nợ xấu.
Tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức rất cao
Sáng 15/01, Đoàn công tác Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và Thường trực Ban Chỉ đạo đã có buổi làm việc với Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nhằm tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 05 ngày 1/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, đồng thời thảo luận giải pháp và chương trình hành động thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” trong giai đoạn 2026–2030.
Phát biểu tại buổi làm việc, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, trong thời gian tới, mục tiêu đặt ra là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây là mục tiêu rất cao và ngành ngân hàng xác định điều này gắn liền với nhiệm vụ chính trị của mình.
Theo Thống đốc, đóng góp cho tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vốn, nhân lực, đổi mới sáng tạo; trong đó đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được Đảng và Nhà nước xác định là động lực tăng trưởng chủ yếu trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hồng cũng nhấn mạnh rằng tín dụng ngân hàng chỉ là một trong nhiều nguồn vốn của nền kinh tế.
“Vốn của nền kinh tế đến từ nhiều nguồn, trong đó có tín dụng từ phía ngân hàng. Hiện tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức rất cao so với các nước có điều kiện tương đồng như Việt Nam, chính vì vậy, ngành ngân hàng đối diện nhiều áp lực trong thực hiện nhiệm vụ đa mục tiêu trong thời gian tới”, Thống đốc lưu ý.
Tại buổi làm việc, các đại biểu đã tập trung thảo luận những nội dung trọng tâm, với nhiều ý kiến góp ý từ các bộ, ngành liên quan đến xây dựng, tài chính, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tiếp thu các ý kiến, Thống đốc Nguyễn Thị Hồng yêu cầu các đơn vị chuyên môn của NHNN khẩn trương triển khai các nhiệm vụ liên quan, phục vụ xây dựng Đề án, bảo đảm tiến độ.
Chính sách linh hoạt, ổn định kinh tế vĩ mô
Phát biểu kết luận buổi làm việc, ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, đánh giá cao công tác chuẩn bị của NHNN, đồng thời ghi nhận những kết quả và đóng góp quan trọng của ngành ngân hàng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội thời gian qua.
Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, với vai trò là “huyết mạch của nền kinh tế”, ngành ngân hàng giữ vị trí đặc biệt quan trọng, đòi hỏi tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức điều hành, nâng cao năng lực thích ứng và chuyển đổi căn bản để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương đề nghị NHNN điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, tín dụng và tỷ giá, gắn với kiểm soát lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng bền vững; đồng thời đẩy mạnh hiện đại hóa ngành ngân hàng trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong bối cảnh năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, vai trò của ngành ngân hàng càng trở nên then chốt. NHNN cần bám sát mục tiêu tăng trưởng, lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm điều kiện tiên quyết, điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với chính sách tài khóa.
Bên cạnh đó, NHNN cần nâng cao chất lượng và cơ cấu lại tín dụng theo hướng bền vững, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; đẩy mạnh chuyển dịch tín dụng sang các ngành, lĩnh vực ưu tiên, có giá trị gia tăng cao, đặc biệt là tín dụng xanh và kinh tế tuần hoàn.
Đáng chú ý, NHNN được đề nghị xây dựng lộ trình cụ thể, minh bạch để từng bước gỡ bỏ cơ chế giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, chuyển sang quản lý dựa trên các chỉ tiêu an toàn, hiệu quả và rủi ro theo thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh. Song song với đó là đẩy nhanh cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn, lành mạnh hệ thống ngân hàng.
Không thể dựa mãi vào tín dụng ngân hàng, dòng tiền phải đi vào sản xuất – kinh doanh
Việt Nam đặt mục tiêu đạt tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026–2030, với yêu cầu tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là cấu trúc hệ thống tài chính phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.
Các số liệu cho thấy tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 60–65% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế. Tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức khoảng 137% và có thể tăng lên 180% vào năm 2030 nếu các kênh dẫn vốn khác không được phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải khai thác hiệu quả hơn các kênh huy động vốn qua thị trường.
Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, tăng trưởng tín dụng toàn ngành năm 2025 có thể đạt khoảng 19%, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Khi đó, hệ số tín dụng/GDP sẽ tăng lên khoảng 146%, thuộc nhóm cao nhất trong các quốc gia có thu nhập trung bình thấp.
Các công ty chứng khoán như MBS và VCBS cũng dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2025 ở mức 18–20%, thậm chí duy trì quanh 20% trong năm 2026 nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10%.
Tuy nhiên, PGS-TS Đinh Trọng Thịnh cho rằng tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc mở rộng cung tín dụng, mà cần chú trọng hiệu quả của từng đồng vốn. Theo ông, ngân hàng chỉ nên là một trụ cột, thay vì trụ cột duy nhất của hệ thống tài chính. Giải pháp căn cơ là phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phiếu, đồng thời khai thác các nguồn tài chính bền vững như tài chính xanh, nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Theo PGS-TS Nguyễn Hữu Huân (Đại học Kinh tế TP.HCM), tín dụng cần tăng trưởng trong vòng kiểm soát, nếu không sẽ gây rủi ro cho hệ thống. Để đồng vốn tín dụng thực sự thúc đẩy kinh tế, dòng tiền phải đi vào sản xuất – kinh doanh, tạo ra năng lực và giá trị gia tăng thực.
Theo TS Cấn Văn Lực, Kinh tế trưởng BIDV, cho biết quy mô thị trường tài chính Việt Nam hiện tương đương khoảng 300% GDP. Trong khi đó, hệ thống ngân hàng vẫn cung ứng tới 50–57% tổng vốn cho nền kinh tế, còn thị trường chứng khoán chỉ chiếm khoảng 11–12%, khiến gánh nặng vốn trung – dài hạn dồn lên hệ thống ngân hàng, trong khi bản chất của ngân hàng là huy động ngắn hạn để cho vay.
TS Cấn Văn Lực cảnh báo, nếu GDP tăng khoảng 10%/năm trong khi tín dụng tiếp tục tăng 16–17%/năm, đến năm 2030 tỷ lệ tín dụng/GDP có thể lên tới 180–185%, vượt xa ngưỡng tối ưu của ASEAN. Khi vượt ngưỡng, tác động tích cực của tín dụng đối với tăng trưởng sẽ giảm dần, thậm chí gây rủi ro nếu đi kèm lạm phát cao.
Tăng trưởng cao phải gắn với kiểm soát lạm phát
Ở góc độ ổn định giá cả, TS Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương), cảnh báo việc mở rộng mạnh chính sách tiền tệ và tài khóa để đạt tăng trưởng cao sẽ gây sức ép lớn lên lạm phát nếu không được kiểm soát chặt chẽ, và dễ lặp lại kịch bản bất ổn giai đoạn 2004–2011.
Theo TS Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế – Tài chính, với tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 khoảng 146%, chính sách tiền tệ cần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất và tỷ giá, khống chế nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, chính sách tài khóa vẫn còn dư địa, song cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và kiểm soát an toàn nợ công.
“Trong dài hạn, tăng trưởng cao không thể dựa vào mở rộng cung tiền và tín dụng, mà chỉ có thể đạt được nhờ tăng năng suất lao động trên nền tảng công nghệ”, TS Nguyễn Đức Độ nhấn mạnh.