«Đông Nam Á có thể biến thành một trong những “mặt trận thầm lặng” của cuộc khủng hoảng này. Mặc dù về mặt địa lý là khu vực nằm cách xa cuộc xung đột, nhưng nền kinh tế của nhiều nước Đông Nam Á lại phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu dầu mỏ và khí hóa lỏng (LNG) từ vùng Vịnh. Trong khi đó, sản xuất năng lượng nội khối còn hạn chế, còn nhu cầu thì không ngừng tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự mở rộng của tầng lớp trung lưu».
«Gián đoạn xung quanh eo biển Hormuz làm giảm nguồn cung toàn cầu và buộc khách hàng châu Á phải cạnh tranh với châu Âu để giành nguồn cung dầu và LNG thay thế. Đặc biệt dễ tổn thương là các nước phụ thuộc vào thị trường khí đốt giao ngay (spot market). Thái Lan, Việt Nam và Malaysia đang bộc lộ cho thấy các nền kinh tế trong khu vực này nhạy cảm thế nào trước những cú sốc về giá năng lượng».
«Tại các nền kinh tế phụ thuộc cao vào nhập khẩu năng lượng, giá dầu tăng có thể dẫn đến mất cân bằng đối ngoại. Ví dụ, tại Thái Lan, cứ mỗi khi giá dầu tăng 10% thì thâm hụt cán cân vãng lai có thể tăng thêm khoảng 0,5 điểm phần trăm GDP, làm gia tăng áp lực lên đồng tiền Baht và thúc đẩy lạm phát».
«Ngay cả khi không xảy ra tình trạng thiếu hụt trực tiếp, sự bất ổn kéo dài của giá năng lượng có thể kìm hãm làm chậm tăng trưởng kinh tế và gây khó khăn cho các quyết định về chính sách tiền tệ, đặc biệt là đối với các nền kinh tế đang phát triển có dư địa ngân sách hạn chế».