Giá năng lượng kéo CPI tăng, áp lực lan rộng sang sản xuất và hạ tầng
CPI tháng 3 tăng 1,23% so với tháng trước và 4,65% so với cùng kỳ, đưa lạm phát bình quân quý I lên 3,51%, trong khi lạm phát cơ bản ở mức 3,63%. Động lực chính đến từ giá năng lượng, đặc biệt chi phí vận tải tăng mạnh 12,85% do giá xăng tăng 29,7% và dầu diesel tăng 57%. Mặt bằng giá nhiên liệu cao cũng lan sang nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng thông qua chi phí logistics và đầu vào.
Trong nông nghiệp, chi phí nhiên liệu và logistics tăng 15-30% đã kéo giá phân bón và thức ăn chăn nuôi tăng 5-11% trong quý I. Trong khi doanh nghiệp sản xuất duy trì công suất cao và đẩy mạnh xuất khẩu để giữ biên lợi nhuận, người nông dân lại chịu sức ép khi chi phí tăng nhanh hơn giá bán. Cùng lúc, nhập khẩu suy giảm cho thấy nhu cầu còn yếu và chuỗi cung ứng vẫn tiềm ẩn rủi ro, phản ánh mức độ phụ thuộc lớn vào đầu vào bên ngoài.
Đối với hạ tầng, biến động giá nhiên liệu đang trở thành rủi ro đáng kể đối với tiến độ đầu tư công. Riêng đợt tăng giá tháng 3 có thể làm chi phí xây dựng giao thông tăng khoảng 8%, và có thể lên tới 16% nếu giá tiếp tục leo thang, tương đương chi phí bổ sung khoảng 42,3 nghìn tỷ đồng cho các dự án trọng điểm. Giá năng lượng tăng cũng kéo theo chi phí nhựa đường, xi măng và thép, gây áp lực lên nhà thầu và làm chậm tiến độ.
“Nhìn chung, bất định địa chính trị kéo dài nhiều khả năng khiến giá năng lượng duy trì ở mức cao. Diễn biến này làm gia tăng lạm phát chi phí trên diện rộng, gây sức ép lên lợi nhuận trong nông nghiệp và làm phức tạp việc triển khai các dự án hạ tầng, đồng thời đặt ra thách thức đối với điều hành lạm phát, hiệu quả đầu tư công và dư địa tài khóa”, Nhịp cầu Đầu tư dẫn Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán SSI (SSI Research) nhận định.
Dù khởi đầu tích cực, tăng trưởng GDP quý I vẫn thấp hơn kịch bản 9,1% theo Nghị quyết 01/NQ-CP. Theo Cục Thống kê, tăng trưởng quý II cần tiệm cận 11% để đảm bảo mục tiêu cả năm, tạo áp lực lớn cho các quý tiếp theo.
Trong bối cảnh đó, điều hành đang chuyển sang hướng chủ động hơn, nhấn mạnh thực thi. Ở lĩnh vực điện, yêu cầu “không để thiếu điện” được triển khai với các biện pháp kiểm soát vận hành chặt chẽ, hạn chế cắt điện giờ cao điểm, điều tiết phụ tải và phối hợp với khu vực công nghiệp.
Về tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước tăng cường kiểm soát mặt bằng lãi suất, yêu cầu minh bạch và tuân thủ kỷ luật thị trường. Thanh khoản hệ thống vẫn được hỗ trợ khi cần thiết, nhưng tín dụng phải gắn chặt hơn với khả năng huy động vốn.
“Tổng thể, định hướng chính sách đang nghiêng về tăng cường phối hợp, kỷ luật hành chính và điều tiết cầu, phản ánh dư địa chính sách ngày càng thu hẹp khi mục tiêu tăng trưởng cao, áp lực lạm phát và rủi ro bên ngoài cùng hội tụ”, SSI Research nhận định.
“Rất đáng nể”
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng khu vực dự báo giảm từ 5,0% năm 2025 xuống 4,2% năm 2026, do tác động từ xung đột Trung Đông, bất ổn chính sách toàn cầu và các yếu tố nội tại.
Tăng trưởng của Trung Quốc dự kiến giảm từ 5,0% xuống 4,2% năm 2026 và 4,3% năm 2027. Các nền kinh tế còn lại trong khu vực cũng giảm xuống 4,1% năm 2026, trước khi phục hồi lên 5,0% vào năm 2027.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam được dự báo tăng trưởng 6,3% năm 2026, thấp hơn mức 6,6% của năm 2025 nhưng cao hơn dự báo trước đó của WB (6,1%). Động lực chính vẫn đến từ đầu tư công, đầu tư tư nhân và dòng vốn FDI ổn định.
Những năm gần đây, FDI vào Việt Nam liên tục tăng, đóng góp khoảng 73% tổng kim ngạch xuất khẩu. Với độ mở thương mại đạt 184% GDP, Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế phụ thuộc vào thương mại lớn nhất châu Á.
Như đã đưa tin, trong công bố mới nhất ngày 10/4, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức 7,2% năm 2026 và lùi nhẹ về 7,0% năm 2027, trong kịch bản các biến động địa chính trị và địa kinh tế hiện nay sớm ổn định.
Theo đó, Việt Nam sẽ là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà còn cả ở châu Á trong vòng 2 năm tới. Dù các mức dự báo này không cao bằng mức 8% đạt được trong năm 2025 hay mức hai con số đề ra cho những năm tới, nhưng ADB đánh giá đây vẫn là những con số rất đáng nể và kiên cường nếu đạt được, theo chuyên gia Shantanu Chakraborty.