Việt Nam: khi lợi thế dân đông không còn là bảo chứng cho tăng trưởng

© Ảnh : BÁO NHÂN DÂNTheo Nghị quyết số 263/NQ-CP mỗi công dân được tặng quà trị giá 100.000 đồng/người, bằng tiền
Theo Nghị quyết số 263/NQ-CP mỗi công dân được tặng quà trị giá 100.000 đồng/người, bằng tiền - Sputnik Việt Nam, 1920, 24.01.2026
Đăng ký
Việt Nam đang bước vào giai đoạn “hậu đỉnh” của thời kỳ dân số vàng. Khi lợi thế nhân khẩu học dần thu hẹp, bài toán không còn nằm ở việc còn bao nhiêu năm dân số vàng, mà là nền kinh tế đã khai thác được bao nhiêu chất lượng từ lực lượng lao động hiện có.
Báo cáo “Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074” do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố đã đưa ra một mốc thời gian gây chú ý mạnh trong giới nghiên cứu và hoạch định chính sách: Việt Nam có thể chính thức kết thúc thời kỳ dân số vàng vào năm 2036, sớm hơn khoảng ba năm so với các dự báo trước đây.
Điều này đồng nghĩa với việc, Việt Nam chỉ còn khoảng 11 năm để tận dụng lợi thế nhân khẩu học từng được xem là “đòn bẩy tự nhiên” cho tăng trưởng.
Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, dân số vàng chưa bao giờ là một trạng thái vĩnh viễn. Nhưng điều khiến Việt Nam đứng trước thách thức lớn không phải là việc dân số vàng kết thúc, mà là nó đang khép lại khi nền kinh tế vẫn đang trong quá trình tích lũy, năng suất lao động còn thấp so với khu vực, và hệ thống an sinh, lao động chưa kịp thích ứng với một xã hội già hóa nhanh.

Giai đoạn “hậu đỉnh”

Để hiểu đúng vấn đề cần quay lại khái niệm gốc của kinh tế học dân số, GS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội (ĐH Kinh tế Quốc dân) cho biết, trong kinh tế học dân số thường chia dân số thành ba nhóm chính.
Thứ nhất là nhóm trẻ em, từ 0 đến dưới 15 tuổi. Thứ hai là nhóm dân số trong độ tuổi lao động, tính tương đối từ 15 đến 64 tuổi. Thứ ba là nhóm người cao tuổi, từ 65 tuổi trở lên.
Trẻ em Việt Nam với những lá cờ của Việt Nam và Hàn Quốc đang chờ đợi Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in tại Hà Nội, Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 29.12.2025
Dân số Việt Nam có thể ngừng tăng sau năm 2060
Khi tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng từ hai phần ba tổng dân số trở lên, tức khoảng 66–67%, thì được gọi là cơ cấu dân số vàng.
Việt Nam bước vào giai đoạn này từ khoảng năm 2007. Như vậy, đến nay, Việt Nam đã trải qua gần 20 năm dân số vàng - một khoảng thời gian không ngắn nếu so với nhiều quốc gia đang phát triển khác. Tuy nhiên, chia sẻ với Sputnik, GS Nguyễn Đình Cử chia sẻ, điều đáng chú ý là đỉnh của dân số vàng đã qua.
“Đỉnh của tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động rơi vào khoảng giai đoạn 2019–2020, khi tỷ lệ này đạt gần 69%. Từ sau đó đến nay, con số này đã giảm dần xuống còn khoảng 67–68%. Điều đó cho thấy Việt Nam đang ở giai đoạn ‘hậu đỉnh’ của thời kỳ dân số vàng và đang chuẩn bị bước vào giai đoạn kết thúc thời kỳ này, như các dự báo cho thấy vào khoảng sau năm 2036”.
Nói cách khác, Việt Nam không còn ở giai đoạn tích lũy thuận lợi nhất, mà đang bước vào thời kỳ chuyển tiếp, nơi lợi thế về số lượng lao động bắt đầu suy giảm, trong khi áp lực già hóa tăng nhanh.

Việt Nam không phải ngoại lệ

Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay đã đạt khoảng 74–75 tuổi và tiếp tục tăng. Trong khi đó, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đã bắt đầu giảm. Mặc dù Việt Nam hiện vẫn đang ở trong thời kỳ dân số vàng, với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động khoảng 67–68%, nhưng thực tế là đã đi qua đỉnh.
Niềm vui của người phụ nữ Đan Lai ở bản Búng (xã Môn Sơn, tỉnh Nghệ An) bên các cháu nhỏ - Sputnik Việt Nam, 1920, 23.12.2025
Việt Nam sẽ chấm dứt thời kỳ dân số vàng vào năm 2036
Nhìn ra quốc tế, Việt Nam không phải trường hợp cá biệt. Trái lại, theo nhận định của nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, đất nước đang đi đúng theo quỹ đạo mà nhiều nền kinh tế phát triển đã trải qua, chỉ khác ở tốc độ.
“Trên thế giới, một xu hướng rất rõ ràng là: các quốc gia càng phát triển, càng giàu có thì mức sinh càng giảm, trong khi tuổi thọ ngày càng tăng. Điều này dẫn đến hệ quả là tỷ lệ người cao tuổi trong dân số tăng nhanh, trong khi tỷ lệ trẻ em và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động giảm xuống”.
Tại Nhật Bản, Hàn Quốc hay nhiều quốc gia châu Âu, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đã đạt 30-35% dân số, trong khi trẻ em chỉ còn khoảng 15%. Khi đó, dân số trong độ tuổi lao động giảm xuống dưới 60%, đồng nghĩa với việc dân số vàng đã khép lại từ lâu.
Việt Nam hiện vẫn có tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao hơn, nhưng điểm khác biệt là Việt Nam đang già hóa khi thu nhập bình quân đầu người vẫn ở mức trung bình thấp. Đây chính là rủi ro của kịch bản “già trước khi giàu”, điều mà Trung Quốc và Hàn Quốc từng tìm cách trì hoãn bằng các cải cách mạnh mẽ về công nghiệp và giáo dục.

Tăng sinh: giải pháp cần thiết nhưng không phải “liều thuốc đảo ngược”

Trong bối cảnh mức sinh của Việt Nam đã xuống dưới mức sinh thay thế, Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách khuyến sinh. Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Đình Cử, cần nhìn nhận đúng giới hạn của các chính sách này:

“Việc tăng tỷ lệ sinh trước hết nhằm mục tiêu bổ sung lực lượng lao động trong tương lai, từ đó làm chậm lại quá trình già hóa dân số. Tuy nhiên, cần nói rõ rằng tăng tỷ lệ sinh không thể đảo ngược hoàn toàn xu thế già hóa, mà chủ yếu là giúp giảm tốc độ già hóa và giảm bớt những tác động tiêu cực của việc kết thúc thời kỳ dân số vàng”.

Chuyên gia cũng chỉ ra một thực tế đáng lo ngại rằng, hiện nay, mức sinh của Việt Nam đang thấp hơn mức sinh thay thế, trong khi tuổi kết hôn trung bình ngày càng tăng. Điều này phản ánh tâm lý ‘ngại cưới, sợ sinh con’ đang xuất hiện ở một bộ phận người trẻ.
Trẻ sơ sinh - Sputnik Việt Nam, 1920, 07.10.2025
Rạn nứt nhân khẩu học: Thế giới chia tách thành các khu vực suy giảm dân số và nơi bùng nổ sinh đẻ
Nếu tâm lý này kéo dài, mức sinh sẽ tiếp tục giảm, kéo theo sự suy giảm lực lượng bổ sung cho thị trường lao động trong tương lai.
Đây là hiện tượng từng xảy ra tại một số nước châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, nay là Trung Quốc và Việt Nam, khi các gói hỗ trợ tài chính lớn vẫn không thể đảo ngược xu thế sinh thấp nếu áp lực chi phí sống, việc làm và giáo dục không được giải quyết tận gốc.

Hỗ trợ sinh con không phải “trợ cấp”, mà là đầu tư cho tương lai quốc gia

Một trong những quan điểm then chốt mà GS Nguyễn Đình Cử nhấn mạnh với Sputnik, đó là cách tiếp cận chính sách đối với sinh con:

“Cần xác định rõ rằng, hỗ trợ sinh con không đơn thuần là trợ cấp hay cứu trợ, mà là sự chia sẻ trách nhiệm xã hội trong việc nuôi dạy trẻ em. Một đứa trẻ lớn lên không chỉ mang lại hạnh phúc cho gia đình, mà còn trở thành nguồn nhân lực cho đất nước, đóng góp vào phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong tương lai. Vì vậy, chi phí nuôi dạy con cần được chia sẻ giữa Nhà nước, cộng đồng và gia đình”, vị chuyên gia nhấn mạnh.

Chi phí này không chỉ là tiền bạc, mà còn là áp lực tinh thần, giáo dục, thời gian và rủi ro xã hội, những yếu tố ngày càng nặng nề trong đời sống đô thị hiện đại.

Bài toán chất lượng, không phải số lượng

Trong khi mục tiêu của Chính phủ là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số. Theo các tính toán kinh tế, nếu duy trì được mức tăng trưởng hai con số, chỉ cần khoảng 7 năm thì quy mô nền kinh tế có thể tăng gấp đôi.
Các nhà máy, khu sản xuất trong Khu kinh tế mở Chu Lai được đầu tư dây chuyền hiện đại. - Sputnik Việt Nam, 1920, 21.01.2026
Tham luận tại Đại hội XIV: Làm gì để kinh tế Việt Nam tăng trưởng hai con số?
Nếu tận dụng tốt thời kỳ dân số vàng, Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao trong vòng khoảng 20 năm tới.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi mà GS Nguyễn Đình Cử chỉ ra là, điều quan trọng không nằm ở việc Việt Nam còn bao nhiêu năm dân số vàng, mà ở chỗ quốc gia đã khai thác được bao nhiêu phần trăm chất lượng của lực lượng lao động hiện có.
“Cơ cấu dân số vàng không chỉ đơn thuần là có nhiều người trong độ tuổi lao động, mà quan trọng hơn là những người đó có khả năng lao động thực sự hay không”, ông nhấn mạnh với Sputnik.
GS Nguyễn Đình Cử nhấn mạnh ba điều kiện song hành:

“Thứ nhất, cần đảm bảo người trong độ tuổi lao động có sức khỏe tốt, không mắc các bệnh làm suy giảm khả năng lao động. Thứ hai, người có khả năng lao động phải có việc làm. Nếu người lao động khỏe mạnh, trình độ tốt nhưng không có việc làm thì cũng không đóng góp được cho tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, và đây là yếu tố khó nhất, việc làm đó phải có năng suất cao. Việc làm năng suất thấp sẽ không tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế”.

Do đó, theo GS. Cử, để tận dụng hiệu quả thời kỳ dân số vàng, Việt Nam cần đồng thời: nâng cao sức khỏe người dân; thu hút đầu tư để tạo việc làm; và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, đồng thời tăng cường đào tạo kỹ năng, tay nghề cho lực lượng lao động.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2 năm 2020. - Sputnik Việt Nam, 1920, 03.03.2020
Việt Nam sẵn sàng hy sinh một số lợi ích kinh tế để bảo vệ tốt nhất an toàn sức khỏe cho người dân
Chỉ khi người lao động khỏe mạnh, có việc làm và làm việc với năng suất cao, thì thời kỳ dân số vàng mới thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng và phát triển bền vững.
Việt Nam đã đi qua phần dễ nhất của khoảng thời gian đó. Phần còn lại, cũng là phần khó nhất, sẽ quyết định liệu Việt Nam bước vào xã hội già hóa với một nền kinh tế đủ mạnh, hay với những cơ hội đã trôi qua không thể quay lại.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала