Việt Nam khiến nhiều nền kinh tế Đông Á phải ‘dè chừng’

Kinh nghiệm của Việt Nam cho thấy tăng trưởng cao không còn là “đặc quyền” của các nền kinh tế Đông Á từng được xem là “con hổ” trong quá khứ.
Sputnik
Theo các chuyên gia, Việt Nam đã thành công trong việc thực hiện mục tiêu kép được Quốc Hội thông qua: tăng trưởng GDP năm 2025 đạt mức trên 8% trong khi lạm phát chỉ ở mức 3,3%.
Bước sang năm 2026, mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10% đặt ra yêu cầu điều hành kinh tế thận trọng hơn nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định giá cả và kinh tế vĩ mô.

Việt Nam thử thách với mục tiêu GDP 10% năm 2026

Phát biểu tại Diễn đàn thường niên diễn biến thị trường giá cả Việt Nam năm 2026 do Học viện Tài chính tổ chức chiều 12/1 tại Hà Nội, PGS, TS. Nguyễn Đào Tùng, Giám đốc Học viện Tài chính, cho biết năm 2026 sẽ đặt ra những thách thức rất lớn.
Mục tiêu tăng trưởng GDP 10% đòi hỏi tổng cầu, từ tiêu dùng, đầu tư đến xuất khẩu, phải tăng mạnh, qua đó tạo sức ép đáng kể lên chính sách tiền tệ và tài khóa.
Theo ông Nguyễn Đào Tùng, việc dung hòa giữa yêu cầu tăng trưởng cao và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô là bài toán không dễ giải. Khó khăn càng gia tăng khi bối cảnh kinh tế toàn cầu năm 2026 được dự báo kém thuận lợi, tiềm ẩn nhiều bất định liên quan đến thuế quan, nguy cơ tăng trưởng chậm tại các nền kinh tế lớn và biến động mạnh của thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế.
Việt Nam “ở thế thắng” trong cuộc đua GDP làm rung chuyển cục diện kinh tế Đông Nam Á
Thực tế cho thấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong năm 2025 dù môi trường quốc tế có nhiều xáo trộn. Tăng trưởng GDP trên 8% đi kèm lạm phát 3,3% là minh chứng cho hiệu quả của các chính sách điều hành kịp thời và phù hợp. Nhờ sự vào cuộc đồng bộ của các ngành, các cấp, nền kinh tế vẫn duy trì được đà tăng trưởng theo đúng kịch bản đặt ra từ đầu năm.
“Để có thể nhận biết được bức tranh toàn cảnh và sâu sắc về thị trường, giá cả tại Việt Nam, diễn đàn được tổ chức nhằm phân tích rõ hơn những xu hướng, động lực chủ yếu tạo nên bức tranh thị trường giá cả trong năm 2025, những thách thức trong và ngoài nước Việt Nam phải đối mặt trong năm 2026 và đề xuất các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu kép Quốc hội đã thông qua”, TTXVN dẫn lời PGS, TS. Nguyễn Đào Tùng nhận định.

Thông điệp mới cho chính những con hổ Đông Á

Kinh nghiệm của Việt Nam cho thấy tăng trưởng cao không còn là “đặc quyền” của các nền kinh tế Đông Á từng được xem là “con hổ” trong quá khứ. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều bất ổn, các quốc gia Đông Nam Á hoàn toàn có khả năng đạt mức tăng trưởng 7-8%, nếu biết kết hợp hiệu quả giữa lợi thế cấu trúc và chiến lược chính sách phù hợp.
Theo nhận định của nhà nghiên cứu ASEAN và quan hệ quốc tế Phar Kim Beng đăng trên tờ FMT của Malaysia và được đăng tải lại trên Đại biểu nhân dân, kết quả tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2025 không đến từ yếu tố ngẫu nhiên, mà được xây dựng trên bốn động lực then chốt có mối liên kết chặt chẽ với nhau.
Toàn cảnh kinh tế Việt Nam 2025: Làm sao để GDP tăng trên 10%?
Ông cho rằng việc Việt Nam công bố mức tăng trưởng GDP trên 8% cho năm 2025, ngay trước thềm Đại hội Đảng, đã nhanh chóng thu hút sự chú ý của giới kinh tế châu Á. Thành quả này phản ánh quá trình tái định vị nền kinh tế một cách có tính toán, trong đó nhiều điểm yếu cũ được chuyển hóa thành các động lực tăng trưởng mới.
Thứ nhất, xuất khẩu tiếp tục đóng vai trò đầu tàu của nền kinh tế. Mặc dù Mỹ áp mức thuế nhập khẩu lên tới 20% đối với hàng hóa Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt khoảng 475 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, xuất khẩu sang thị trường Mỹ không những không suy giảm mà còn lập kỷ lục mới, qua đó tạo ra thặng dư thương mại trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chịu nhiều sức ép suy thoái.
Những kết quả này kéo theo sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp và bán lẻ, với mức tăng trên 9%, trong khi lạm phát được kiểm soát quanh ngưỡng 3%. Dòng vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng gần 9%, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư vào hệ sinh thái sản xuất của Việt Nam.
Thứ hai, Việt Nam đang nổi lên như một trung tâm sản xuất toàn cầu. Nhiều tập đoàn đa quốc gia đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ và ngày càng nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã lựa chọn Việt Nam làm cứ điểm sản xuất trong các lĩnh vực như điện tử, dệt may và hàng tiêu dùng. Những địa phương như Bắc Ninh, từng là khu vực nông nghiệp thuần túy, đã chuyển mình thành các đô thị công nghiệp nhờ các hành lang sản xuất hướng xuất khẩu, hưởng lợi trực tiếp từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu khỏi Trung Quốc.
Thứ ba, cầu nội địa đóng vai trò lực đỡ quan trọng cho tăng trưởng. Dù xuất khẩu thu hút nhiều sự chú ý, thị trường trong nước của Việt Nam cũng mở rộng nhanh chóng nhờ thu nhập tăng và tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển. Tiêu dùng hộ gia đình và đầu tư trong nước trở thành động lực bổ sung, giúp nền kinh tế giảm bớt sự phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.
GDP 2025 tăng khoảng 8%, Việt Nam vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao
Thứ tư, Việt Nam thể hiện khả năng thích ứng chiến lược linh hoạt trong chính sách thương mại và đầu tư. Thay vì đối đầu trực diện với các rào cản thuế quan, Hà Nội lựa chọn cách tiếp cận đa dạng hóa thị trường, ngành hàng và đối tác. Đồng thời, Việt Nam chủ động theo đuổi các hiệp định thương mại mới, với mục tiêu duy trì mức tăng trưởng trung bình khoảng 10% mỗi năm đến năm 2030.
Thành công của Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa trong phạm vi quốc gia, mà còn phát đi một thông điệp rộng hơn cho khu vực Đông Nam Á: tăng trưởng cao hoàn toàn có thể đạt được ngay cả trong môi trường toàn cầu đầy bất định.

Phối hợp tiền tệ - tài khóa để giữ lạm phát trong tầm kiểm soát

Ở góc độ dự báo, TS. Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính), cho rằng áp lực lạm phát trong năm 2026 tiếp tục chịu tác động từ độ trễ của tăng trưởng tín dụng.
Theo dự báo, CPI có thể tăng khoảng 0,3% mỗi tháng, đưa lạm phát bình quân cả năm xoay quanh mức 3,5%. Để vừa đạt tăng trưởng GDP cao vừa giữ lạm phát dưới ngưỡng mục tiêu 4-4,5%, ông nhấn mạnh sự cần thiết của việc phân công rõ ràng và phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa và tiền tệ.
TS. Nguyễn Đức Độ cũng lưu ý, tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam năm 2025 đã đạt khoảng 146%, thuộc nhóm cao so với nhiều nền kinh tế cùng trình độ phát triển.
Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ cần ưu tiên mục tiêu ổn định vĩ mô, bao gồm kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất và tỷ giá, kiểm soát nợ xấu và đảm bảo an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng.
Đến 2050 Việt Nam là nước thu nhập cao, GDP bình quân đầu người trên 38.000 USD
Bàn về các giải pháp dài hạn, chuyên gia kinh tế TS. Cấn Văn Lực cho rằng chuyển đổi số giữ vai trò then chốt trong việc vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa hạn chế áp lực lạm phát, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Chuyển đổi số giúp giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian thanh toán, tăng tính minh bạch và qua đó đẩy nhanh vòng quay của tiền. Khi tốc độ lưu thông tiền tệ được cải thiện, cùng một lượng cung tiền có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn mà không gây sức ép đáng kể lên mặt bằng giá.
Trong khi đó, TS. Lê Quốc Phương, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương), cho rằng các yếu tố hỗ trợ ổn định giá cả năm 2026 về cơ bản không khác nhiều so với năm 2025. Tuy nhiên, việc tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa mở rộng nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP 8% trong năm 2025 và từ 10% mỗi năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030 sẽ tạo áp lực lớn lên lạm phát. Theo ông, nếu đẩy mạnh tăng trưởng chủ yếu thông qua mở rộng đầu tư bằng các công cụ tiền tệ và tài khóa, nguy cơ lạm phát tăng cao là hiện hữu, do đó cần đi kèm các biện pháp kiểm soát chặt chẽ.
Từ góc nhìn quản trị rủi ro, PGS, TS. Ngô Trí Long nhận định năm 2026 đặt ra yêu cầu điều hành theo tư duy kịch bản, với sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và quản lý giá cả.
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng phấn đấu từ 10% trở lên, trong khi CPI bình quân định hướng quanh mức 4,5%, việc kiểm soát rủi ro càng trở nên quan trọng. Tổng hợp dự báo của nhiều tổ chức quốc tế cho thấy kịch bản cơ sở về lạm phát năm 2026 của Việt Nam phổ biến trong khoảng 3,4-3,8%, thậm chí có thể lên 3,5-4%, song nguy cơ cộng hưởng giữa chi phí đẩy và cầu kéo vẫn hiện hữu.
GDP Việt Nam có thể tăng 10%, nền kinh tế đang trong vị trí đẹp của chu kỳ
Để bảo đảm đạt mục tiêu lạm phát do Quốc hội đề ra, PGS, TS. Ngô Trí Long cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.
Trong đó, trọng tâm là neo giữ kỳ vọng lạm phát, minh bạch hóa lộ trình điều chỉnh giá, tăng cường “bộ đệm cung” đối với các mặt hàng thiết yếu, phối hợp chính sách theo mục tiêu kép, giảm chi phí logistics và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng giám sát thị trường và hệ thống cảnh báo sớm rủi ro.
Thảo luận