Chính sách kinh tế dưới thời chính quyền Mỹ đang có những điều chỉnh mạnh mẽ, trực diện tác động đến các đối tác thương mại lớn, kể cả những đồng minh thân cận nhất. Việc Mỹ giữ Nhật Bản và Hàn Quốc trong "danh sách theo dõi" ngoại hối khiến dư luận đặt câu hỏi về thực chất mối quan hệ kinh tế - tài chính này.
Rõ ràng, đây không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật kinh tế, mà là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ đồng USD trong bối cảnh nợ công Mỹ tăng phi mã.
Để làm rõ vấn đề này, Sputnik đã có cuộc trao đổi với Đại tá Nguyễn Minh Tâm, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Khoa giáo (Bộ Công an) về "luật Mỹ" áp dụng cho đồng minh và vị thế chiến lược của Việt Nam trước những biến động này.
"Luật Mỹ" áp dụng cho đồng minh
Sputnik: Cuối tháng 1, Bộ Tài chính Mỹ cho biết, Mỹ vẫn giữ Hàn Quốc và Nhật Bản trong danh sách các quốc gia cần theo dõi về chính sách ngoại hối. Vậy theo ông, việc Nhật Bản và Hàn Quốc (hai đồng minh thân cận của Mỹ) vẫn bị đưa vào danh sách giám sát thao túng tiền tệ cho thấy điều gì ?
Đại tá Nguyễn Minh Tâm, nguyên Giám đốc Trung tâm thông tin và khoa giáo, Bộ Công an:
Trước động thái này của Mỹ, các chuyên gia kinh tế tài chính quốc tế đều thống nhất nhận định rằng đó là do thặng dư thương mại và thặng dư cán cân thanh toán vãng lai của Nhật Bản và Hàn Quốc cao hơn tiêu chuẩn của Washington. Nói nôm na là cả hai quốc gia này đều đang ở vị thế “xuất siêu” đối với Mỹ.
Một lần nữa, và không biết đây là lần thứ bao nhiêu, người Mỹ đã đem “luật Mỹ” ra áp dụng đối với thế giới. Tuy nhiên, ngôn ngữ được Bộ Tài chính Mỹ sử dụng có vẻ như một sự đánh tráo khái niệm. Đó là “theo dõi về chính sách ngoại hối” nhưng thực chất là giám sát tài chính ngoại hối. Điều vô lý là ở chỗ Bộ Tài chính Mỹ chỉ theo dõi về chính sách ngoại hối đối với Mỹ, cụ thể là với đồng Dollar Mỹ chứ không phải với đối tượng nào khác.
Áp lực nợ công và kịch bản "tự cứu mình"
Đại tá Nguyễn Minh Tâm: Vấn đề nằm ở chỗ chính sách thuế quan ngặt nghèo của Mỹ dưới “triều đình” Donald Trump 2.0 cộng với số nợ công của Mỹ tăng lên gần 38.000 tỷ USD, cộng với lạm phát của Mỹ cao hơn mức trung bình toàn cầu đã khiến cho nhiều quốc gia, trong đó có các đồng minh của Mỹ ở Châu Âu phải xoay sở để “tự cứu mình trước khi trời cứu”. Ít nhất, họ có ba phương thức để xoay sở:
Một là, tìm đến các đồng tiền mạnh khác làm phương tiện thanh toán quốc tế song phương hoặc đa phương thay cho đồng Dollar Mỹ.
Hai là, tìm đến các cơ chế thanh toán quốc tế phù hợp để tránh phụ thuộc và hệ thống SWIFT do Mỹ điều khiển nhằm tạo dựng vị thế độc lập, tự chủ trên thị trường thế giới.
Ba là, bán bớt nợ công của Mỹ để đổi lấy vàng làm dự trữ chiến lược, đề phòng người Mỹ tuyên bố “quỵt nợ” kiểu như Richard Nixon đã làm hồi tháng 8/1971 khi tuyên bố trả nợ cho Tây Âu bằng dầu mỏ thay vì bằng vàng ròng.
Kiềm chế đồng minh trước áp lực từ BRICS
Đại tá Nguyễn Minh Tâm: Thực ra thì không chỉ Nhật Bản và Hàn Quốc làm điều này mà nhiều quốc gia khác đang nắm giữ phần lớn nợ công của Mỹ cũng làm điều này. Điển hình là Trung Quốc. Họ đã bán bớt nợ công của Mỹ cho người Anh, đưa nước Anh trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ ở thời điểm hiện tại và dùng số tiền đó để mua vàng tích trữ.
Tuy nhiên, vì Hàn Quốc và Nhật Bản là hai đồng minh lớn của Mỹ ở Tây Bắc Thái Bình Dương nên để không phải lặp lại chiêu trò “quỵt nợ” của Richard Nixon năm 1971, Donald Trump đã thi hành chính sách phòng ngừa sớm để mong kiềm chế họ trong tầm kiểm soát về tài chính-tiền tệ trước khi họ có muốn “giao du” với khối BRICS. Điều này thì Washington không thể chấp nhận.
Vị thế đặc biệt của Việt Nam
Sputnik: Trong bối cảnh Nhật - Hàn đều bị theo dõi, phải chăng Việt Nam đang được Mỹ nhìn nhận như một mắt xích ở vị trí nào trong chuỗi kinh tế Đông Á?
Đại tá Nguyễn Minh Tâm, nguyên Giám đốc Trung tâm thông tin và khoa giáo, Bộ Công an:
Khác với Nhật Bản và Hàn Quốc, trong hơn 10 năm qua, Việt Nam đạt được vị thế top 10 quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới nhừ việc duy trì một đồng tiền yếu trong tài chính đối ngoại và “neo” đồng VND vào đồng USD bằng chính sách tỷ giá. Tất nhiên là nhiều quốc gia khác cũng “neo” đồng tiền của họ vào đồng USD như một sự tất yếu khi USD là đồng tiền chuyển đổi phổ biến số 1 trên thế giới.
Tuy nhiên, sự khác nhau đã đem lại lợi thế cho Việt Nam so với nhiều nước khác là cở chỗ tuy Việt Nam “neo” đồng VND vào đồng USD như chỉ là trên thị trường ngoại hối nói riêng và kinh tế đối ngoại nói chung. Còn trong thị trường nội địa, Việt Nam vẫn duy trì nền tài chính một đồng tiền duy nhất là VND. Tất nhiên là các đồng ngoại tệ vẫn có thể được sử dụng để giao dịch trong nước trong trường hợp có yếu tố nước ngoài nhưng luôn phải chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt từ các cơ quan chức năng.
Nói chung thì bất cứ nền tài chính nào trên thế giới này bị đô la hóa một phần hoặc toàn phần đều sẽ chịu sự tác động về tiền tệ từ phía Washington bằng nhiều hình thức khác nhau. Còn nền tài chính nội địa của Việt Nam thì chưa bao giờ và sẽ không bao giờ bị đô la hóa.
Tương lai của Đô la và chiến lược của Việt Nam
Sputnik: Việc Mỹ sử dụng công cụ giám sát tiền tệ có phản ánh sự duy trì ảnh hưởng của USD trong trật tự tài chính toàn cầu, thưa ông? Các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam cần làm gì để cân bằng giữa hội nhập sâu và giữ ổn định chính sách tiền tệ?
Đại tá Nguyễn Minh Tâm, nguyên Giám đốc Trung tâm thông tin và khoa giáo, Bộ Công an:
Cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX nền kinh tế Mỹ đột khởi nhờ ba yếu tố chiến lược:
- Một là, sự “chảy máu chất xám”, “chảy máu công nghệ” từ nước Anh và Châu Âu do sự hà khắc của “tàn dư phong kiến” vốn mang tư tưởng bảo thủ, trì trệ ở “lục địa già”. Nước Mỹ thay thế nước Anh trở thành “Công xưởng của thế giới”. Kèm theo đó là trung tâm tài chính toàn cầu đã dịch chuyển từ London sang New York.
- Hai là, các cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai chủ yếu diễn ra trên địa bàn Châu Âu đã làm cho nước Mỹ nghiễm nhiên trở thành một “Mạnh thường quân”, đồng thời là chủ nợ lớn nhất, duy nhất của các nước Tây Âu. Không có gì ngạc nhiên khi tất cả các ông chủ ngân hàng lớn nhất ở Thụy Sĩ, Thụy Điển, Anh, Ireland, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ấn Độ, Canada, khu vực Trung Mỹ, Nam Mỹ và Caribbean…, tổng cộng có 44 quốc gia đã ký kết Hiệp ước Bretton Woods 1944.
31 Tháng Mười Hai 2025, 02:09
Không chỉ là thỏa thuận công nhận đồng USD là đồng tiền chuyển đổi chung cho thế giới với 35 USD được bảo đảm và 1 ounce vàng mà còn mở đường cho hai cơ quan tài chính toàn cầu do Mỹ nắm quyền điều khiển là “Ngân hàng thế giới” (WB) và “Quỹ tiền tệ quốc tế” (IMF). Đây là hai công cụ tài chính để người Mỹ nắm độc quyền điều hành nền tài chính toàn cầu từ năm 1944 đến nay
- Ba là, cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ tư khởi phát tại Mỹ với hai thành tựu là tự động hóa và tin học hóa. Việc nắm giữ các công nghệ nền, công nghệ lõi của hai thành tựu này giúp người Mỹ vươn lên vị trí dẫn đầu thế giới cả về kinh tế, chính trị và quân sự trong nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XXI.
Tuy nhiên, với sự dàn trải sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ toàn cầu, cùng với sự trì trệ trong phát triển công nghệ mới và nhiều sai lầm khác trong “đầu tư chính trị toàn cầu” nhằm thâu tóm quyền lực, nền kinh tế Mỹ bước vào chu kỳ suy thoái sau một thế kỷ đột khởi.
Trước hết sự cạnh tranh của các đồng tiền mạnh khác như EURO, Mark, France, Nhân dân tệ, Yen ngày càng lớn bởi đằng sau những đồng tiền đó là các nền kinh tế phát triển hoặc mới nổi. Đó là lý do mà người Mỹ buộc phải từ bỏ cơ chế “AU - DOLLAR” để chuyển đổi sang cơ chế “PETRO - DOLLAR” và thiết lập hệ thống thanh toán quốc tế SWIFT. Tuy nhiên, hệ thống này cũng đang diễn biến suy thoái theo biểu đồ “hạ cánh mềm” của nền kinh tế Mỹ mà ngay cả “chính sách lãi suất” của FED đối với đồng USD dù tăng hay giảm cũng không thể đem lại kết quả khả quan..
Khi công cụ “lãi suất USD” không đem lại hiệu quả, người Mỹ quay sang sử dụng công cụ “thuế nhập khẩu”. Tuy nhiên, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại thời hiện đại, “Hàng rào thuế quan” là công cụ có tính ngắn hạn. Thậm chí, nó có thể có tác dụng ngược. Còn chính sách “Bảo hộ mậu dịch” thì lại càng lỗi thời khi mà chuỗi logistic toàn cầu ngày càng trở nên rộng lớn và chặt chẽ hơn. Trong điều kiện ấy, công cụ giám sát tiền tệ cũng sẽ mất tác dụng về kinh tế mà chỉ còn là một công cụ răn đe về chính trị.
Xuất phát từ những dữ liệu sơ bộ kế trên, Việt Nam vẫn có thể giữa vững tốc độ và chất lượng phát triển của nền kinh tế nếu biết khai thác lợi thế đa dạng hóa, đa phương hóa về kinh tế đối ngoại; luôn giữ khoảng cách hợp lý giữa tài chính đối nội và tài chính đối ngoại; đồng thời linh hoạt điều chỉnh quan hệ mọi mặt giữa VND với các đồng ngoại tệ mạnh khác chứ không chỉ với USD.
Sputnik: Xin chân thành cảm ơn Đại tá với phân tích, đánh giá đầy thực tiễn và bao quát.