Kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng 9%
Trao đổi bên lề Diễn đàn Tài chính và Đầu tư Bất động sản 2026 ngày 28/3, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng nhìn nhận, về kết quả quý I, ông Lực cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể đạt khoảng 8%.
Trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông kéo dài hơn một tháng và gây tác động tiêu cực tới kinh tế thế giới cũng như trong nước, mức tăng trưởng này được xem là một kết quả tích cực. Đối với cả năm 2026, ông nhận định mục tiêu tăng trưởng 10% là rất thách thức.
Theo kịch bản cơ sở với xác suất 50%, tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt khoảng 9%, lạm phát khoảng 4-4,5%. Trong kịch bản này, giá xăng dầu trong nước bình quân năm 2026 tăng khoảng 15% so với năm 2025, xuất khẩu giảm 0,5-1 điểm %, thu hút FDI giảm khoảng 0,5-1 điểm %.
Ở kịch bản tiêu cực với xác suất 30%, tăng trưởng GDP có thể giảm 0,8-1,2 điểm % so với mục tiêu 10%. Kịch bản này xảy ra khi xung đột tại Trung Đông lan rộng trong khu vực, kéo dài 4-5 tháng và làm gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz trong 3-4 tháng. Khi đó, giá xăng dầu bình quân năm 2026 tăng 18-20%, xuất khẩu giảm khoảng 2 điểm %, FDI giảm 1-1,5 điểm %, lạm phát ở mức 4,2-4,7%.
Ở kịch bản rất tiêu cực với xác suất 20%, tăng trưởng kinh tế có thể giảm 1,2-1,5 điểm % so với mục tiêu nếu xung đột leo thang, kéo dài đến hết năm và lan rộng ra ngoài khu vực. Trong trường hợp này, xuất khẩu và FDI đều suy giảm mạnh, chi phí logistics và bảo hiểm tăng cao, FDI có thể giảm tới 2 điểm %, trong khi lạm phát bình quân năm có thể tăng lên 4,5-5% hoặc cao hơn.
Theo trang thông tin điện tử Người quan sát dẫn lời TS. Cấn Văn Lực chia sẻ tại diễn đàn cũng nhấn mạnh các rủi ro vĩ mô, trong đó đáng chú ý là tác động lan tỏa từ xung đột địa chính trị, biến động giá dầu và áp lực tỷ giá đối với kinh tế Việt Nam.
Theo TS. Lực, triển vọng kinh tế năm 2026 phụ thuộc lớn vào diễn biến xung đột địa chính trị, đặc biệt là khả năng gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu xây dựng ba kịch bản.
Với kịch bản cơ sở (xác suất 50%), xung đột không lan rộng và kết thúc trong khoảng 4-6 tuần, eo biển Hormuz chỉ bị gián đoạn 4-5 tuần. Khi đó, giá dầu Brent có thể tăng nhanh trong ngắn hạn lên 90-105 USD/thùng, sau đó giảm về 70-75 USD/thùng; bình quân năm khoảng 80-83 USD/thùng, tăng 15-20% so với năm 2025. Lạm phát toàn cầu tăng khoảng 0,4-0,6 điểm %, tăng trưởng GDP thế giới giảm 0,2-0,3 điểm %.
Ở kịch bản tiêu cực (xác suất 30%), xung đột lan rộng toàn khu vực và kéo dài 4-5 tháng, eo biển Hormuz bị gián đoạn 3-4 tháng. Giá dầu có thể tăng lên 115-120 USD/thùng trước khi ổn định quanh 80-90 USD/thùng; bình quân năm khoảng 83-87 USD/thùng, tăng 20-25%. Lạm phát toàn cầu tăng 0,6-1 điểm %, tăng trưởng GDP thế giới giảm 0,4-0,7 điểm %, xuất hiện nguy cơ lạm phát cao đi kèm tăng trưởng suy yếu.
Ở kịch bản rất tiêu cực (xác suất 20%), xung đột leo thang, kéo dài đến hết năm và lan rộng, eo biển Hormuz bị gián đoạn trên 6 tháng. Giá dầu có thể vượt 100 USD/thùng, thậm chí lên 120-140 USD/thùng, sau đó mới hạ nhiệt; bình quân năm khoảng 90-95 USD/thùng, tăng 30-40%. Trong trường hợp này, lạm phát toàn cầu có thể tăng 1,2-1,7 điểm %, tăng trưởng GDP giảm 0,8-1 điểm % hoặc sâu hơn, kéo theo nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu.
TS. Cấn Văn Lực cho rằng điểm chung của cả ba kịch bản là cú sốc đến từ giá năng lượng, làm tăng lạm phát và kéo giảm tăng trưởng. Mức độ tác động phụ thuộc chủ yếu vào thời gian gián đoạn nguồn cung dầu và mức độ lan rộng của xung đột. Trong bối cảnh bất định gia tăng, điều hành kinh tế vĩ mô cần giữ bình tĩnh, chủ động và tránh phản ứng thái quá trước các cú sốc ngắn hạn.
Việt Nam cần ứng phó thế nào?
Về giải pháp, trong ngắn hạn cần ưu tiên không để cú sốc giá xăng dầu và đứt gãy chuỗi cung ứng chuyển thành cú sốc nguồn cung năng lượng và lạm phát. Theo đó, cần kiện toàn Tổ phản ứng nhanh về năng lượng, xây dựng các kịch bản bảo đảm nguồn cung xăng dầu, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, tăng cường kiểm tra thị trường để ngăn chặn đầu cơ, găm hàng. Đồng thời, có thể triển khai các biện pháp tiết kiệm năng lượng và linh hoạt sử dụng công cụ thuế, phí cùng Quỹ bình ổn giá.
Trong điều hành vĩ mô, cần phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ và tài khóa nhằm ổn định tỷ giá và duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý để hỗ trợ sản xuất. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ kịp thời đối với các doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp từ chi phí nhiên liệu và vận tải tăng cao.
Về trung và dài hạn, trọng tâm là củng cố an ninh năng lượng quốc gia thông qua đa dạng hóa nguồn cung, tăng dự trữ năng lượng chiến lược và đẩy nhanh triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Đồng thời, cần hoàn thiện khung pháp lý để nâng cao năng lực tự chủ về năng lượng.
Bên cạnh đó, cần phát triển sâu hơn các thị trường tài chính như thị trường chứng khoán và thị trường giao dịch hàng hóa nhằm tạo công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng. Việc đầu tư hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng được xem là yếu tố quan trọng để tận dụng xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng và dòng vốn đầu tư mới.
TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh, trong ngắn hạn cần “giảm sốc”, còn trong trung và dài hạn phải “tăng sức đề kháng” của nền kinh tế.