https://kevesko.vn/20260806/ai-se-la-dau-tau-dua-doanh-nghiep-nha-nuoc-vao-top-500-the-gioi-43610134.html
Ai sẽ là “đầu tàu” đưa doanh nghiệp nhà nước vào top 500 thế giới?
Ai sẽ là “đầu tàu” đưa doanh nghiệp nhà nước vào top 500 thế giới?
Sputnik Việt Nam
Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh trong năm 2026, nhưng mục tiêu có 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 lớn nhất thế giới đến năm... 06.08.2026, Sputnik Việt Nam
2026-08-06T09:50+0700
2026-08-06T09:50+0700
2026-08-06T11:11+0700
việt nam
thông tin
doanh nghiệp
kinh doanh
điều kiện kinh doanh
năng lực cạnh tranh
kinh tế
chiến lược phát triển kinh tế
tăng trưởng kinh tế
kinh tế thị trường
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e6/03/0a/14157017_0:95:1011:663_1920x0_80_0_0_4cabc24b28437822bdac66f943c48c7e.jpg
Trong năm 2026, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn. Đây được xem là một danh mục có thể định hình lại cục diện khu vực doanh nghiệp nhà nước trong nhiều năm tới.Thông tin được bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính, xác nhận. Đây là nhiệm vụ được giao tại chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị.Mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là có từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Vì vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là danh mục gồm những doanh nghiệp nào, mà là những doanh nghiệp được chọn sẽ được giao nhiệm vụ gì và được trao cơ chế nào để thực hiện.Ngưỡng doanh thu để vào bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới của Fortune hiện khoảng 33,2 tỷ USD. Với giả định doanh thu tăng bình quân trên 10% mỗi năm, một tập đoàn muốn đạt mục tiêu này vào năm 2030 cần có nền tảng doanh thu khoảng 20 tỷ USD ở thời điểm hiện tại. EVN, với doanh thu hợp nhất năm 2025 ước khoảng 24,8 tỷ USD, đã đăng ký tham gia mục tiêu này.Ở cấp khu vực, triển vọng rõ hơn. Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2025 của Fortune có 76 doanh nghiệp Việt Nam, tăng từ 70 doanh nghiệp của năm trước. Petrovietnam lần đầu góp mặt ở vị trí thứ 11 và là đại diện duy nhất của Việt Nam trong nhóm 20 doanh nghiệp có doanh thu cao nhất. Ngưỡng vào danh sách khu vực chỉ khoảng 349 triệu USD.Khoảng cách gần một trăm lần về ngưỡng doanh thu giữa hai bảng xếp hạng cho thấy mục tiêu có 50 doanh nghiệp trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất khu vực là khả thi hơn nhiều so với mục tiêu có 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 toàn cầu. Phần khó này không thể giải quyết bằng việc lập danh sách, mà đòi hỏi tốc độ tăng trưởng bền bỉ trong nhiều năm. Tốc độ đó đến từ cơ chế.Chọn doanh nghiệp theo tương lai, không chỉ theo quy mô hiện tạiTheo bà Nguyễn Thu Thủy, danh mục sẽ tham khảo chuẩn mực của các bảng xếp hạng quốc tế như quy mô doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, đồng thời kết hợp với tiềm năng phát triển, thị phần và mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào ngành.Điểm đáng chú ý là Bộ Tài chính sẽ xác định trước những ngành, lĩnh vực Nhà nước cần giữ vai trò dẫn dắt, sau đó mới lựa chọn doanh nghiệp phù hợp. Theo bà Thủy, một doanh nghiệp hiện có quy mô chưa lớn nhưng hoạt động trong lĩnh vực chiến lược và có tiềm năng vẫn có thể được đưa vào định hướng đầu tư, phát triển thành doanh nghiệp mạnh.Cách tiếp cận này hợp lý về nguyên tắc. Nếu chỉ chọn theo quy mô hiện tại, danh mục sẽ chỉ phản ánh những gì đã có, trong khi mục tiêu của Nghị quyết 79 hướng tới năng lực phát triển trong tương lai.Bài toán đi kèm là nguồn lực. Sau 40 năm đổi mới, số doanh nghiệp có vốn nhà nước đã giảm còn khoảng 850, trong đó khoảng 700 doanh nghiệp do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ. Riêng 18 tập đoàn, tổng công ty do Bộ Tài chính làm cơ quan đại diện chủ sở hữu đã nắm trên 60% tổng vốn và tài sản của toàn khối.Mức tập trung nguồn lực này là đáng kể, nhưng con số 850 vẫn lớn so với thông lệ ở nhiều nước, có nơi chỉ khoảng 200 doanh nghiệp. Vì vậy, nếu muốn hình thành nhóm doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh, việc lựa chọn phải đi cùng sắp xếp lại nguồn lực và cơ chế quản trị.Danh mục phải đi cùng thể chếTại tọa đàm, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nhấn mạnh yêu cầu thể chế phải đi trước, hoặc ít nhất đi cùng quá trình lựa chọn doanh nghiệp.Theo ông, lựa chọn theo lối hành chính không phải lúc nào cũng đạt kết quả mong muốn, bởi tiềm năng doanh nghiệp khó được phản ánh đầy đủ qua các tiêu chí hành chính, trong khi năng lực quản lý nhà nước không đồng nhất với năng lực kinh doanh. Cách tiếp cận phù hợp hơn là chọn những doanh nghiệp đã chứng minh được năng lực trên thực tế và còn dư địa phát triển.Nhưng khi đã chọn, doanh nghiệp phải được trao điều kiện tương ứng, gồm nguồn lực và đặc biệt là thể chế.Lo ngại này có cơ sở thực tế. Danh mục doanh nghiệp dẫn dắt dự kiến được trình Chính phủ trong năm 2026, trong khi cơ chế thưởng từ lợi nhuận vượt kế hoạch, một trong những cơ chế vượt trội được nhắc đến nhiều nhất, mới dự kiến đề xuất năm 2027. Nếu các cơ chế khác cũng triển khai theo nhịp này, doanh nghiệp có thể được gọi tên là đầu tàu nhưng vẫn phải vận hành trong khuôn khổ cũ.Đầu tàu phải kéo được chuỗi giá trịCâu hỏi khó hơn là doanh nghiệp dẫn dắt sẽ được đánh giá bằng thước đo nào.TS. Nguyễn Đình Cung đặt vấn đề từ góc độ cạnh tranh hiện đại: ngày nay không còn là doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp, mà là chuỗi giá trị cạnh tranh với chuỗi giá trị. Trong mỗi chuỗi luôn có một doanh nghiệp dẫn đầu kéo theo hệ thống nhà cung ứng.Khi các tập đoàn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, họ mang theo chuỗi cung ứng của họ. Kỳ vọng doanh nghiệp Việt được kéo vào chuỗi ấy là chính đáng, nhưng lợi ích của các tập đoàn nước ngoài lớn hơn và họ không dễ chia sẻ. Vì vậy, theo ông Cung, Việt Nam phải tự xây dựng chuỗi của mình, và doanh nghiệp nhà nước phải làm được việc đó.Ông dẫn Viettel như một ví dụ cho thấy điều này khả thi, không chỉ vì quy mô mà vì khả năng hình thành chuỗi giá trị và dẫn dắt một hệ thống doanh nghiệp cùng phát triển. Từ đó, ông đề nghị nghiên cứu chính những trường hợp đã thành công để rút ra tiêu chí lựa chọn, thay vì viện dẫn kinh nghiệm quốc tế một cách chung chung.TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách Trường Đại học VinUni, nhận xét doanh nghiệp nhà nước nhìn chung hầu như không xuất khẩu, chủ yếu khai thác thị trường trong nước; ngay cả các định chế tài chính lớn cũng gần như không ra nước ngoài. Theo ông, yêu cầu đặt ra sau Nghị quyết 79 là chuyển từ tư thế phòng thủ sang tư thế tấn công.Đây cũng là khoảng trống trong hệ thống đánh giá hiện nay. Nếu một doanh nghiệp được xác định là đầu tàu, giá trị nó tạo ra không chỉ nằm ở doanh thu và lợi nhuận của chính doanh nghiệp đó, mà còn ở tỷ lệ nội địa hóa, giá trị đặt hàng cho doanh nghiệp trong nước, số doanh nghiệp nhỏ và vừa được kéo vào chuỗi cung ứng. Những chỉ tiêu này hiện chưa có trong hệ thống đánh giá.Khi chưa được đo lường, những đóng góp đó khó trở thành ưu tiên. Một đầu tàu nếu chỉ được đánh giá bằng kết quả riêng của mình sẽ thiếu động lực để kéo theo cả hệ thống, khiến vai trò dẫn dắt mà Nghị quyết 79 đặt ra dễ dừng lại ở kỳ vọng.Tương tự với mục tiêu vươn ra thị trường quốc tế. Đây là hướng đi được Nghị quyết 79 khuyến khích và cũng là điều TS. Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh khi nói về tư thế tấn công. Tuy nhiên, nếu mức độ thâm nhập thị trường nước ngoài chưa trở thành tiêu chí đánh giá có trọng số tương xứng, mở rộng ra bên ngoài vẫn là lựa chọn nhiều rủi ro hơn so với khai thác thị trường trong nước.Theo TS. Nguyễn Đình Cung, ngay cả những doanh nghiệp đã đi xa vẫn có những hạng mục lẽ ra có thể đi xa hơn nếu không vướng rào cản. Ông cho rằng bằng chứng thực tế đã có sẵn, vấn đề là cần nghiên cứu để nhận diện. Nếu doanh nghiệp mạnh nhất còn vướng, phần còn lại của khu vực doanh nghiệp nhà nước sẽ còn vướng nhiều hơn.Xây dựng Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh là bước đi cần thiết. Không thể có doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 lớn nhất thế giới nếu không xác định rõ ai sẽ được đầu tư và đầu tư vào đâu.Nhưng danh mục tự nó không tạo ra năng lực. Nếu doanh nghiệp được gọi tên mà cơ chế vẫn như cũ, vẫn phải qua nhiều tầng phê duyệt cho từng dự án, vẫn được đánh giá bằng thước đo chưa phản ánh đầy đủ phần đóng góp, vẫn thiếu công cụ để cạnh tranh ở thị trường quốc tế, mục tiêu đến năm 2030 sẽ rất khó khả thi. Điều kiện đi kèm cần được chuẩn bị song song ngay từ bây giờ, thay vì chờ đến khi danh mục được ban hành.
https://kevesko.vn/20260804/ap-luc-tang-truong-2-con-so-va-yeu-cau-giam-thue-cho-doanh-nghiep-cua-thu-tuong-43581790.html
https://kevesko.vn/20260805/dung-quat-tang-125-nang-luc-ton-chua-dau-tho-giua-bien-dong-thi-truong-nang-luong-43596830.html
https://kevesko.vn/20260804/viet-nam-hut-hon-20-ty-do-khong-phai-dau-hieu-nen-kinh-te-suy-yeu-43591745.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e6/03/0a/14157017_0:0:1011:758_1920x0_80_0_0_5dcb5c300b4d5de2d9e894a6bc64e33e.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, thông tin, doanh nghiệp, kinh doanh, điều kiện kinh doanh, năng lực cạnh tranh, kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, kinh tế thị trường
việt nam, thông tin, doanh nghiệp, kinh doanh, điều kiện kinh doanh, năng lực cạnh tranh, kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế, kinh tế thị trường
Trong năm 2026, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn. Đây được xem là một danh mục có thể định hình lại cục diện khu vực doanh nghiệp nhà nước trong nhiều năm tới.
Thông tin được bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính, xác nhận. Đây là nhiệm vụ được giao tại chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị.
Mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là có từ 1 đến 3 doanh nghiệp nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Vì vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là danh mục gồm những doanh nghiệp nào, mà là những doanh nghiệp được chọn sẽ được giao nhiệm vụ gì và được trao cơ chế nào để thực hiện.
Ngưỡng doanh thu để vào bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới của Fortune hiện khoảng 33,2 tỷ USD. Với giả định doanh thu tăng bình quân trên 10% mỗi năm, một tập đoàn muốn đạt mục tiêu này vào năm 2030 cần có nền tảng doanh thu khoảng 20 tỷ USD ở thời điểm hiện tại. EVN, với doanh thu hợp nhất năm 2025 ước khoảng 24,8 tỷ USD, đã đăng ký tham gia mục tiêu này.
Ở cấp khu vực, triển vọng rõ hơn. Bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á năm 2025 của Fortune có 76 doanh nghiệp Việt Nam, tăng từ 70 doanh nghiệp của năm trước. Petrovietnam lần đầu góp mặt ở vị trí thứ 11 và là đại diện duy nhất của Việt Nam trong nhóm 20 doanh nghiệp có doanh thu cao nhất. Ngưỡng vào danh sách khu vực chỉ khoảng 349 triệu USD.
Khoảng cách gần một trăm lần về ngưỡng doanh thu giữa hai bảng xếp hạng cho thấy mục tiêu có 50 doanh nghiệp trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất khu vực là khả thi hơn nhiều so với mục tiêu có 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 toàn cầu. Phần khó này không thể giải quyết bằng việc lập danh sách, mà đòi hỏi tốc độ tăng trưởng bền bỉ trong nhiều năm. Tốc độ đó đến từ cơ chế.
Chọn doanh nghiệp theo tương lai, không chỉ theo quy mô hiện tại
Theo bà Nguyễn Thu Thủy, danh mục sẽ tham khảo chuẩn mực của các bảng xếp hạng quốc tế như quy mô doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, đồng thời kết hợp với tiềm năng phát triển, thị phần và mức độ đóng góp của doanh nghiệp vào ngành.
Điểm đáng chú ý là Bộ Tài chính sẽ xác định trước
những ngành, lĩnh vực Nhà nước cần giữ vai trò dẫn dắt, sau đó mới lựa chọn doanh nghiệp phù hợp. Theo bà Thủy, một doanh nghiệp hiện có quy mô chưa lớn nhưng hoạt động trong lĩnh vực chiến lược và có tiềm năng vẫn có thể được đưa vào định hướng đầu tư, phát triển thành doanh nghiệp mạnh.
Cách tiếp cận này hợp lý về nguyên tắc. Nếu chỉ chọn theo quy mô hiện tại, danh mục sẽ chỉ phản ánh những gì đã có, trong khi mục tiêu của Nghị quyết 79 hướng tới năng lực phát triển trong tương lai.
Bài toán đi kèm là nguồn lực. Sau 40 năm đổi mới, số doanh nghiệp có vốn nhà nước đã giảm còn khoảng 850, trong đó khoảng 700 doanh nghiệp do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ. Riêng 18 tập đoàn, tổng công ty do Bộ Tài chính làm cơ quan đại diện chủ sở hữu đã nắm trên 60% tổng vốn và tài sản của toàn khối.
Mức tập trung nguồn lực này là đáng kể, nhưng con số 850 vẫn lớn so với thông lệ ở nhiều nước, có nơi chỉ khoảng 200 doanh nghiệp. Vì vậy, nếu muốn hình thành nhóm doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh, việc lựa chọn phải đi cùng sắp xếp lại nguồn lực và cơ chế quản trị.
Danh mục phải đi cùng thể chế
Tại tọa đàm, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nhấn mạnh yêu cầu thể chế phải đi trước, hoặc ít nhất đi cùng quá trình lựa chọn doanh nghiệp.
Theo ông, lựa chọn theo lối hành chính không phải lúc nào cũng đạt kết quả mong muốn, bởi tiềm năng doanh nghiệp khó được phản ánh đầy đủ qua các tiêu chí hành chính, trong khi năng lực quản lý nhà nước không đồng nhất với
năng lực kinh doanh. Cách tiếp cận phù hợp hơn là chọn những doanh nghiệp đã chứng minh được năng lực trên thực tế và còn dư địa phát triển.
Nhưng khi đã chọn, doanh nghiệp phải được trao điều kiện tương ứng, gồm nguồn lực và đặc biệt là thể chế.
"Thể chế phải đi trước hoặc ít nhất là đi đồng thời", ông nói, đồng thời cảnh báo nếu xác định danh mục xong rồi vài năm sau mới xây dựng cơ chế thì sẽ không đạt yêu cầu.
Lo ngại này có cơ sở thực tế. Danh mục doanh nghiệp dẫn dắt dự kiến được trình Chính phủ trong năm 2026, trong khi cơ chế thưởng từ lợi nhuận vượt kế hoạch, một trong những cơ chế vượt trội được nhắc đến nhiều nhất, mới dự kiến đề xuất năm 2027. Nếu các cơ chế khác cũng triển khai theo nhịp này, doanh nghiệp có thể được gọi tên là đầu tàu nhưng vẫn phải vận hành trong khuôn khổ cũ.
Đầu tàu phải kéo được chuỗi giá trị
Câu hỏi khó hơn là doanh nghiệp dẫn dắt sẽ được đánh giá bằng thước đo nào.
TS. Nguyễn Đình Cung đặt vấn đề từ góc độ cạnh tranh hiện đại: ngày nay không còn là doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp, mà là chuỗi giá trị cạnh tranh với chuỗi giá trị. Trong mỗi chuỗi luôn có một doanh nghiệp dẫn đầu kéo theo hệ thống nhà cung ứng.
Khi các tập đoàn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, họ mang theo chuỗi cung ứng của họ. Kỳ vọng doanh nghiệp Việt được kéo vào chuỗi ấy là chính đáng, nhưng lợi ích của các tập đoàn nước ngoài lớn hơn và họ không dễ chia sẻ. Vì vậy, theo ông Cung, Việt Nam phải tự xây dựng chuỗi của mình, và doanh nghiệp nhà nước phải làm được việc đó.
Ông dẫn Viettel như một ví dụ cho thấy điều này khả thi, không chỉ vì quy mô mà vì khả năng hình thành chuỗi giá trị và dẫn dắt một hệ thống doanh nghiệp cùng phát triển. Từ đó, ông đề nghị nghiên cứu chính những trường hợp đã thành công để rút ra tiêu chí lựa chọn, thay vì viện dẫn kinh nghiệm quốc tế một cách chung chung.
TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu
Chính sách Trường Đại học VinUni, nhận xét doanh nghiệp nhà nước nhìn chung hầu như không xuất khẩu, chủ yếu khai thác thị trường trong nước; ngay cả các định chế tài chính lớn cũng gần như không ra nước ngoài. Theo ông, yêu cầu đặt ra sau Nghị quyết 79 là chuyển từ tư thế phòng thủ sang tư thế tấn công.
Đây cũng là khoảng trống trong hệ thống đánh giá hiện nay. Nếu một doanh nghiệp được xác định là đầu tàu, giá trị nó tạo ra không chỉ nằm ở doanh thu và lợi nhuận của chính doanh nghiệp đó, mà còn ở tỷ lệ nội địa hóa, giá trị đặt hàng cho doanh nghiệp trong nước, số doanh nghiệp nhỏ và vừa được kéo vào chuỗi cung ứng. Những chỉ tiêu này hiện chưa có trong hệ thống đánh giá.
Khi chưa được đo lường, những đóng góp đó khó trở thành ưu tiên. Một đầu tàu nếu chỉ được đánh giá bằng kết quả riêng của mình sẽ thiếu động lực để kéo theo cả hệ thống, khiến vai trò dẫn dắt mà Nghị quyết 79 đặt ra dễ dừng lại ở kỳ vọng.
Tương tự với mục tiêu vươn ra thị trường quốc tế. Đây là hướng đi được Nghị quyết 79 khuyến khích và cũng là điều TS. Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh khi nói về tư thế tấn công. Tuy nhiên, nếu mức độ thâm nhập thị trường nước ngoài chưa trở thành tiêu chí đánh giá có trọng số tương xứng, mở rộng ra bên ngoài vẫn là lựa chọn nhiều rủi ro hơn so với khai thác thị trường trong nước.
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, ngay cả những doanh nghiệp đã đi xa vẫn có những hạng mục lẽ ra có thể đi xa hơn nếu không vướng rào cản. Ông cho rằng bằng chứng thực tế đã có sẵn, vấn đề là cần nghiên cứu để nhận diện. Nếu doanh nghiệp mạnh nhất còn vướng, phần còn lại của khu vực doanh nghiệp nhà nước sẽ còn vướng nhiều hơn.
Xây dựng Danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh là bước đi cần thiết. Không thể có doanh nghiệp lọt vào
nhóm 500 lớn nhất thế giới nếu không xác định rõ ai sẽ được đầu tư và đầu tư vào đâu.
Nhưng danh mục tự nó không tạo ra năng lực. Nếu doanh nghiệp được gọi tên mà cơ chế vẫn như cũ, vẫn phải qua nhiều tầng phê duyệt cho từng dự án, vẫn được đánh giá bằng thước đo chưa phản ánh đầy đủ phần đóng góp, vẫn thiếu công cụ để cạnh tranh ở thị trường quốc tế, mục tiêu đến năm 2030 sẽ rất khó khả thi. Điều kiện đi kèm cần được chuẩn bị song song ngay từ bây giờ, thay vì chờ đến khi danh mục được ban hành.