https://kevesko.vn/20260920/viet-nam-can-1100-ty-usd-von-gdp-binh-quan-dau-nguoi-co-the-len-8000-usd-44211289.html
Việt Nam cần 1.100 tỷ USD vốn, GDP bình quân đầu người có thể lên 8.000 USD
Việt Nam cần 1.100 tỷ USD vốn, GDP bình quân đầu người có thể lên 8.000 USD
Sputnik Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị Đầu tư Techcombank 2026 ngày 19/9, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh nhấn mạnh ổn định kinh tế vĩ mô là nền tảng củng cố... 20.09.2026, Sputnik Việt Nam
2026-09-20T21:26+0700
2026-09-20T21:26+0700
2026-09-20T21:26+0700
việt nam
gdp
kinh tế
doanh nghiệp
ipo
techcombank
tài chính
đầu tư
ngân sách
chính sách
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/06/0b/42931184_0:224:2844:1824_1920x0_80_0_0_f412988b0566daf36fc54b1ac799640a.jpg
Việt Nam cần nguồn vốn lớn cho mục tiêu tăng trưởng caoTTXVN dẫn lời Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần nâng cao năng suất, chất lượng thể chế và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Việc kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định lãi suất, tỷ giá và các cân đối lớn giúp doanh nghiệp, nhà đầu tư giảm rủi ro và có cơ sở hoạch định dài hạn.Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.Một trong những nhu cầu vốn lớn nhất đến từ phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, đô thị, logistics và chuyển đổi số. Do các dự án này thường cần vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài, bên cạnh đầu tư công, Việt Nam cần huy động hiệu quả hơn nguồn lực tư nhân, nhà đầu tư có tổ chức, thị trường vốn trong nước và dòng vốn dài hạn quốc tế.Ông cũng lưu ý việc cung ứng vốn phải đi cùng an toàn hệ thống, chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế - xã hội và tính thực chất của dự án. Các ngân hàng cần nâng cao năng lực thẩm định, quản trị rủi ro, tài trợ hợp vốn và kết nối nguồn vốn trong nước với quốc tế. Đồng thời, thị trường tiền tệ và thị trường vốn cần phát triển cân bằng hơn để mở rộng nguồn vốn trung, dài hạn.Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước, cho rằng hệ thống ngân hàng hiện giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn cho nền kinh tế và các dự án hạ tầng. Tuy nhiên, nguồn vốn ngân hàng chủ yếu có kỳ hạn ngắn, trong khi các dự án hạ tầng cần vốn lớn và thời gian thu hồi dài.Vì vậy, tín dụng ngân hàng không thể là nguồn vốn duy nhất. Việt Nam cần huy động đồng thời ngân sách nhà nước, vốn ODA, vốn vay từ các tổ chức quốc tế và nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài.Cần khoảng 1.100 tỷ USD vốn nếu GDP tăng trưởng 10%Từ góc độ Bộ Xây dựng, ông Nguyễn Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, cho biết Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực vào các dự án hạ tầng chiến lược, trọng điểm quốc gia có sức lan tỏa nhưng khả năng thu hồi vốn thấp, kết hợp vốn ODA và các khoản vay ưu đãi từ World Bank, ADB. Khu vực tư nhân được định hướng vào những dự án gắn với vận hành, khai thác dịch vụ và có dòng tiền hoàn vốn tốt.Tổng Giám đốc Techcombank Jens Lottner cho rằng một vấn đề lớn đặt ra là nhu cầu vốn nếu kinh tế Việt Nam bước vào quỹ đạo tăng trưởng GDP 10%.Theo ông, nhiều tổ chức đầu tư quốc tế hiện dự báo Việt Nam tăng trưởng khoảng 6-7%. Nếu đạt 10%, quỹ đạo phát triển sẽ thay đổi đáng kể cả về quy mô GDP và thu nhập bình quân đầu người.Theo CEO Techcombank, nếu Việt Nam tăng trưởng GDP 10%, nhu cầu hình thành vốn có thể lên tới khoảng 1.100 tỷ USD. Riêng phát triển hạ tầng và chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng tham gia các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao hơn, đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững và cam kết trung hòa carbon vào năm 2050, cần khoảng 500 tỷ USD trong 5 năm tới.Nhu cầu vốn còn đến từ kinh tế số, trung tâm dữ liệu, bất động sản và đô thị hóa. Vì vậy, ngoài tín dụng và trái phiếu, Việt Nam cần mở rộng các kênh huy động khác.Theo ông, việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE nâng hạng có thể tạo thêm dư địa thu hút khoảng 6-10 tỷ USD vốn quốc tế, dù quy mô thực tế chưa thể xác định chính xác. Các tài sản có dòng tiền rõ ràng cũng có thể được khai thác thông qua REITs và chứng khoán bảo đảm bằng tài sản để bổ sung nguồn lực cho những dự án mới.Nhìn chung, để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho hạ tầng và mục tiêu tăng trưởng cao, các đại biểu cho rằng Việt Nam cần giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển đồng bộ thị trường vốn, huy động mạnh hơn nguồn lực tư nhân và quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực cấu trúc, phân bổ và quản trị dòng vốn của hệ thống tài chính.
https://kevesko.vn/20260917/no-cong-viet-nam-chi-37-gdp-chinh-phu-thua-uy-tin-phat-hanh-trai-phieu-bang-dong-usd-44180455.html
https://kevesko.vn/20260913/gdp-ppp-viet-nam-vuot-1838-ty-usd-vao-top-25-the-gioi-vuot-ha-lan-thuy-sy-44121934.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/06/0b/42931184_57:0:2788:2048_1920x0_80_0_0_aacdfbf328740042d6ea35e36ca5d0cf.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, gdp, kinh tế, doanh nghiệp, ipo, techcombank, tài chính, đầu tư, ngân sách, chính sách, ngân hàng, năng lượng, logistics
việt nam, gdp, kinh tế, doanh nghiệp, ipo, techcombank, tài chính, đầu tư, ngân sách, chính sách, ngân hàng, năng lượng, logistics
Việt Nam cần 1.100 tỷ USD vốn, GDP bình quân đầu người có thể lên 8.000 USD
Phát biểu tại Hội nghị Đầu tư Techcombank 2026 ngày 19/9, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh nhấn mạnh ổn định kinh tế vĩ mô là nền tảng củng cố niềm tin và sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, qua đó hỗ trợ Việt Nam hướng tới tăng trưởng cao, bền vững.
Việt Nam cần nguồn vốn lớn cho mục tiêu tăng trưởng cao
TTXVN dẫn lời Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần nâng cao năng suất, chất lượng thể chế và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Việc kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định lãi suất, tỷ giá và các cân đối lớn giúp
doanh nghiệp, nhà đầu tư giảm rủi ro và có cơ sở hoạch định dài hạn.
Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Một trong những nhu cầu vốn lớn nhất đến từ phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, đô thị, logistics và chuyển đổi số. Do các dự án này thường cần vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài, bên cạnh đầu tư công, Việt Nam cần huy động hiệu quả hơn nguồn lực tư nhân, nhà đầu tư có tổ chức, thị trường vốn trong nước và dòng vốn dài hạn quốc tế.
“Trong tiến trình đó, hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng, nhưng không chỉ với tư cách là bên cung cấp tín dụng, các ngân hàng thương mại cần từng bước trở thành đối tác tài chính toàn diện, có khả năng tư vấn, cấu trúc và thu xếp giải pháp vốn phù hợp với từng dự án,” Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh nhấn mạnh.
Ông cũng lưu ý việc cung ứng vốn phải đi cùng an toàn hệ thống, chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế - xã hội và tính thực chất của dự án. Các ngân hàng cần nâng cao năng lực thẩm định, quản trị rủi ro, tài trợ hợp vốn và kết nối nguồn vốn trong nước với quốc tế. Đồng thời, thị trường tiền tệ và thị trường vốn cần phát triển cân bằng hơn để mở rộng nguồn vốn trung, dài hạn.
Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước, cho rằng hệ thống ngân hàng hiện giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn cho nền kinh tế và các dự án hạ tầng. Tuy nhiên, nguồn vốn ngân hàng chủ yếu có kỳ hạn ngắn, trong khi các dự án hạ tầng cần vốn lớn và thời gian thu hồi dài.
Vì vậy, tín dụng ngân hàng không thể là nguồn vốn duy nhất. Việt Nam cần huy động đồng thời ngân sách nhà nước, vốn ODA, vốn vay từ các tổ chức quốc tế và nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài.
Cần khoảng 1.100 tỷ USD vốn nếu GDP tăng trưởng 10%
Từ góc độ Bộ Xây dựng, ông Nguyễn Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, cho biết Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực vào các dự án hạ tầng chiến lược, trọng điểm quốc gia có sức lan tỏa nhưng khả năng thu hồi vốn thấp, kết hợp vốn ODA và các khoản vay ưu đãi từ World Bank, ADB. Khu vực tư nhân được định hướng vào những dự án gắn với vận hành, khai thác dịch vụ và có dòng tiền hoàn vốn tốt.
Tổng Giám đốc Techcombank Jens Lottner cho rằng một vấn đề lớn đặt ra là nhu cầu vốn nếu kinh tế Việt Nam bước vào quỹ đạo tăng trưởng
GDP 10%.
Theo ông, nhiều tổ chức đầu tư quốc tế hiện dự báo Việt Nam tăng trưởng khoảng 6-7%. Nếu đạt 10%, quỹ đạo phát triển sẽ thay đổi đáng kể cả về quy mô GDP và thu nhập bình quân đầu người.
“GDP bình quân đầu người có thể tăng rất nhanh từ khoảng 6.000 USD lên khoảng 8.000 USD,” ông Jens Lottner nhận định.
Theo CEO Techcombank, nếu Việt Nam tăng trưởng GDP 10%, nhu cầu hình thành vốn có thể lên tới khoảng 1.100 tỷ USD. Riêng phát triển hạ tầng và chuyển đổi mô hình kinh tế theo hướng tham gia các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao hơn, đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững và cam kết trung hòa carbon vào năm 2050, cần khoảng 500 tỷ USD trong 5 năm tới.
Nhu cầu vốn còn đến từ kinh tế số, trung tâm dữ liệu, bất động sản và đô thị hóa. Vì vậy, ngoài tín dụng và trái phiếu, Việt Nam cần mở rộng các kênh huy động khác.
“Chúng ta cần nhiều vốn cổ phần hơn, cần có các đợt IPO để doanh nghiệp huy động vốn chủ sở hữu, đồng thời cần trái phiếu hạ tầng kỳ hạn dài và các giải pháp tài chính cấu trúc,” ông Jens Lottner nói.
Theo ông, việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE nâng hạng có thể tạo thêm dư địa thu hút khoảng 6-10 tỷ USD vốn quốc tế, dù quy mô thực tế chưa thể xác định chính xác. Các tài sản có dòng tiền rõ ràng cũng có thể được khai thác thông qua REITs và chứng khoán bảo đảm bằng tài sản để bổ sung nguồn lực cho những dự án mới.
Nhìn chung, để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho hạ tầng và mục tiêu tăng trưởng cao, các đại biểu cho rằng Việt Nam cần giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển đồng bộ thị trường vốn, huy động mạnh hơn nguồn lực tư nhân và quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực cấu trúc, phân bổ và quản trị dòng vốn của hệ thống tài chính.