https://kevesko.vn/20260930/fdi-chiem-77-hang-xuat-khau-viet-nam-khong-the-chi-mai-di-lap-rap-44345498.html
FDI chiếm 77% hàng xuất khẩu, Việt Nam không thể chỉ mãi đi lắp ráp
FDI chiếm 77% hàng xuất khẩu, Việt Nam không thể chỉ mãi đi lắp ráp
Sputnik Việt Nam
Muốn nâng sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế, Việt Nam phải chuyển từ mục tiêu “nội địa hóa theo tỉ lệ” sang làm chủ năng lực công nghiệp, tập... 30.09.2026, Sputnik Việt Nam
2026-09-30T19:53+0700
2026-09-30T19:53+0700
2026-09-30T19:53+0700
việt nam
thông tin
kinh tế
bộ công thương
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/09/1e/44345341_0:0:2933:1651_1920x0_80_0_0_2300920fb76dfcb9897c253a3896a838.jpg
FDI chiếm 77% tổng kim ngạch xuất khẩuSáng 30/9, tại Phú Thọ, kết luận Hội thảo “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho rằng phát triển công nghiệp hỗ trợ không thể chỉ dựa vào việc mở rộng ưu đãi hay ban hành thêm chính sách. Điều quan trọng hơn là phải thay đổi cách tiếp cận, xác định rõ những năng lực Việt Nam cần làm chủ và tạo được thị trường đủ lớn để doanh nghiệp trong nước tham gia.Theo Phó Thủ tướng Thường trực, công nghiệp hỗ trợ là nền tảng trực tiếp quyết định năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và mức độ tham gia của nền kinh tế vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là tầng sản xuất gồm vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết kế, công nghệ chế tạo, đo lường, thử nghiệm… Một quốc gia có thể lắp ráp sản phẩm hiện đại nhưng vẫn chưa có nền công nghiệp tự chủ nếu những khâu này còn phụ thuộc bên ngoài.Việt Nam hiện có hơn 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, khoảng 30% đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và một số tập đoàn trong nước bắt đầu đóng vai trò đầu chuỗi. Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng Thường trực, lĩnh vực này vẫn “rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh”.Năm 2025, khu vực FDI chiếm 77% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong 8 tháng năm 2026, tỉ trọng này lên 80,1%, với mức tăng 26,9%, trong khi xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 7,4%.Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu tiếp tục làm rõ trong phần xuất khẩu của khu vực FDI, doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia và tạo ra bao nhiêu giá trị. Đây mới là căn cứ để đánh giá đúng năng lực công nghiệp hỗ trợ trong nước.Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới được dẫn tại hội thảo, tỉ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hiện mới khoảng 18% và chủ yếu là doanh nghiệp lớn. Nguồn cung trong nước cho công nghiệp công nghệ cao chỉ đạt khoảng 5-10%, trong khi nhiều lĩnh vực như đúc, rèn, xử lý nhiệt, xử lý bề mặt vẫn còn khoảng trống.Những hạn chế này xuất phát từ nhiều điểm nghẽn: thiếu doanh nghiệp đầu chuỗi và đơn hàng ổn định, ưu đãi chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạ tầng tiêu chuẩn - đo lường - thử nghiệm còn yếu, nguồn nhân lực “thừa thầy, thiếu thợ”, phối hợp chưa chặt và hiệu quả chính sách chưa được đo lường đầy đủ.Phó Thủ tướng Thường trực cũng cho rằng tư duy thu hút đầu tư phải chuyển từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, tạo việc làm và đóng góp vào năng lực tự chủ của nền kinh tế.Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển và Việt Nam triển khai nhiều dự án lớn như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi, bán dẫn hay các chương trình công nghệ chiến lược, yêu cầu chuyển giao công nghệ cần được đặt lên hàng đầu.Theo ông, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang phải thực hiện đồng thời “hai nhịp”: vừa khắc phục những hạn chế của công nghiệp hóa truyền thống, vừa tránh để các ngành mới như bán dẫn, AI, robot, pin, năng lượng mới hay hàng không vũ trụ rơi vào tình trạng có sản phẩm cuối cùng nhưng phần lớn linh kiện, vật liệu vẫn nhập khẩu.5 chuyển đổi trong cách tiếp cậnPhó Thủ tướng Thường trực đề nghị thực hiện 5 chuyển đổi căn bản. Thứ nhất, chuyển từ “nội địa hóa theo tỉ lệ” sang “làm chủ năng lực”, xác định rõ lĩnh vực nào cần tự chủ, lĩnh vực nào cần bảo đảm khả năng thay thế, thay vì cố tự sản xuất mọi đầu vào.Thứ hai, chuyển từ hỗ trợ dàn trải theo ngành sang tập trung theo chuỗi, từng công đoạn và những bài toán lớn của đất nước. Thứ ba, chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ dựa trên kết quả, có điều kiện và thời hạn; Nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”, chia sẻ rủi ro nhưng tránh cơ chế xin - cho. Thứ tư, chuyển từ chú trọng “thu hút FDI” sang “sử dụng hiệu quả FDI”, tăng liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam. Thứ năm, chuyển từ quản lý hoạt động sang quản lý theo kết quả, trong đó nguồn lực ngân sách phải tạo thêm nhà cung ứng đạt chuẩn và giá trị gia tăng trong nước.Theo Phó Thủ tướng Thường trực, doanh nghiệp phải là trung tâm, trong đó khu vực tư nhân cần được đặc biệt chú trọng. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và tạo thị trường ban đầu; thị trường trong nước là điểm tựa, còn xuất khẩu là thước đo năng lực cạnh tranh.Đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đặt mục tiêu tỉ lệ nội địa hóa bình quân 40-45%, trong đó điện tử đạt 25-30%, cơ khí chế tạo 40%, ô tô 22-30%, dệt may 60%, da giày 60-65% và công nghiệp công nghệ cao 15%. Chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp hướng tới nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.Đến năm 2035, cơ khí chế tạo phấn đấu đạt tỉ lệ nội địa hóa 50%, dệt may 70%, đồng thời doanh nghiệp Việt Nam chủ động hơn ở các khâu nghiên cứu, thiết kế và chế tạo.Tầm nhìn đến năm 2045 là Việt Nam làm chủ công nghệ lõi trong các ngành công nghiệp nền tảng, tham gia những khâu có giá trị cao của chuỗi khu vực và toàn cầu, đồng thời duy trì được năng lực sản xuất trong mọi tình huống.Biến dự án lớn thành “đơn đặt hàng đầu tiên”Để đạt các mục tiêu trên, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị tập trung vào 8 nhóm nhiệm vụ, trong đó trọng tâm là hoàn thiện thể chế, tạo thị trường dẫn dắt và nâng năng lực doanh nghiệp trong nước.Trước mắt, các chính sách công nghiệp hỗ trợ cần được thể chế hóa trong Luật Công nghiệp trọng điểm và các luật liên quan. Danh mục sản phẩm ưu tiên cũng phải được rà soát, gắn với công nghệ chiến lược và các cam kết quốc tế của Việt Nam.Một nhiệm vụ quan trọng khác là nghiên cứu cơ chế để đầu tư công, các dự án hạ tầng chiến lược, mua sắm công và mua sắm của doanh nghiệp nhà nước trở thành “đơn đặt hàng đầu tiên” cho doanh nghiệp trong nước.Các dự án lớn cần có phương án sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước trên cơ sở năng lực đáp ứng, giá trị và hàm lượng công nghệ. Việc nhập khẩu công nghệ cao cũng phải đi kèm chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực nội địa.Các tập đoàn trong nước được đề nghị chuyển từ mua module hoàn chỉnh sang công bố tiêu chuẩn, đặt hàng từng phân hệ và hỗ trợ phát triển nhà cung ứng Việt Nam. Thu hút FDI cần ưu tiên những dự án có trung tâm nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ và chương trình phát triển nhà cung ứng trong nước.Song song với đó là đầu tư hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm dùng chung cho các lĩnh vực như cơ khí chính xác, điện - điện tử, bán dẫn, pin và vật liệu mới; phát triển nguồn nhân lực chiến lược; đổi mới công cụ tài chính, tín dụng; hình thành các cụm liên kết ngành và xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ năng lực nhà cung ứng quốc gia.Riêng với Phú Thọ, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị địa phương tận dụng lợi thế công nghiệp, vị trí liên kết vùng và mạng lưới doanh nghiệp để phấn đấu trở thành một trung tâm công nghiệp hỗ trợ của cả nước. Bộ Công Thương được yêu cầu ban hành kế hoạch hành động Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2028 trước ngày 30/10/2026, xác định rõ các chuỗi, phân hệ ưu tiên, trách nhiệm thực hiện và các mốc kiểm tra sau 12 tháng, 24 tháng.Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng phải nghiên cứu lộ trình nội địa hóa và tăng đặt hàng trong nước từ nay đến ngày 30/6/2027.Chính phủ sẽ thúc đẩy thực hiện theo tinh thần “việc đã nói thì phải làm, việc đã giao thì phải có địa chỉ, có thời hạn và có kết quả đo đếm được”, qua đó nâng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
https://kevesko.vn/20260912/ky-luc-40-ty-usd-fdi-vao-viet-nam-nga-dung-dau-trong-ban-co-cong-nghiep-moi-44108534.html
https://kevesko.vn/20260803/fdi-vuot-38-ty-usd-cac-tap-doan-hang-dau-the-gioi-don-dap-do-tien-vao-viet-nam-43575676.html
https://kevesko.vn/20260730/xuat-khau-57-ty-usd-nhung-dien-thoai-viet-nam-gan-nhu-phu-thuoc-hoan-toan-vao-fdi-43537569.html
https://kevesko.vn/20260610/5-thang-hon-248-ty-usd-fdi-vao-viet-nam-doi-chieu-42909676.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/09/1e/44345341_202:0:2933:2048_1920x0_80_0_0_e9b518d47ffcc416917d6921e98e1bbb.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, thông tin, kinh tế, bộ công thương
việt nam, thông tin, kinh tế, bộ công thương
FDI chiếm 77% tổng kim ngạch xuất khẩu
Sáng 30/9, tại Phú Thọ, kết luận Hội thảo “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho rằng phát triển công nghiệp hỗ trợ không thể chỉ dựa vào việc mở rộng ưu đãi hay ban hành thêm chính sách. Điều quan trọng hơn là phải thay đổi cách tiếp cận, xác định rõ những năng lực Việt Nam cần làm chủ và tạo được thị trường đủ lớn để doanh nghiệp trong nước tham gia.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, công nghiệp hỗ trợ là nền tảng trực tiếp quyết định năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và mức độ tham gia của nền kinh tế vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là tầng sản xuất gồm vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết kế, công nghệ chế tạo, đo lường, thử nghiệm… Một quốc gia có thể lắp ráp sản phẩm hiện đại nhưng vẫn chưa có nền công nghiệp tự chủ nếu những khâu này còn phụ thuộc bên ngoài.
Việt Nam hiện có hơn 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, khoảng 30% đã tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và một số tập đoàn trong nước bắt đầu đóng vai trò đầu chuỗi. Tuy nhiên, theo Phó Thủ tướng Thường trực, lĩnh vực này vẫn “rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh”.
Năm 2025, khu vực
FDI chiếm 77% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong 8 tháng năm 2026, tỉ trọng này lên 80,1%, với mức tăng 26,9%, trong khi xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 7,4%.
Phó Thủ tướng Thường trực yêu cầu tiếp tục làm rõ trong phần xuất khẩu của khu vực FDI, doanh nghiệp Việt Nam thực sự tham gia và tạo ra bao nhiêu giá trị. Đây mới là căn cứ để đánh giá đúng năng lực công nghiệp hỗ trợ trong nước.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới được dẫn tại hội thảo, tỉ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hiện mới khoảng 18% và chủ yếu là doanh nghiệp lớn. Nguồn cung trong nước cho công nghiệp công nghệ cao chỉ đạt khoảng 5-10%, trong khi nhiều lĩnh vực như đúc, rèn, xử lý nhiệt, xử lý bề mặt vẫn còn khoảng trống.
Những hạn chế này xuất phát từ nhiều điểm nghẽn: thiếu doanh nghiệp đầu chuỗi và đơn hàng ổn định, ưu đãi chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạ tầng tiêu chuẩn - đo lường - thử nghiệm còn yếu, nguồn nhân lực “thừa thầy, thiếu thợ”, phối hợp chưa chặt và hiệu quả chính sách chưa được đo lường đầy đủ.
Phó Thủ tướng Thường trực cũng cho rằng tư duy thu hút đầu tư phải chuyển từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên dự án công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, tạo việc làm và đóng góp vào năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển và Việt Nam triển khai nhiều dự án lớn như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi, bán dẫn hay các chương trình công nghệ chiến lược, yêu cầu chuyển giao công nghệ cần được đặt lên hàng đầu.
Theo ông, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang phải thực hiện đồng thời “hai nhịp”: vừa khắc phục những hạn chế của công nghiệp hóa truyền thống, vừa tránh để các ngành mới như bán dẫn, AI, robot, pin, năng lượng mới hay hàng không vũ trụ rơi vào tình trạng có sản phẩm cuối cùng nhưng phần lớn linh kiện, vật liệu vẫn nhập khẩu.
5 chuyển đổi trong cách tiếp cận
Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị thực hiện 5 chuyển đổi căn bản. Thứ nhất, chuyển từ “nội địa hóa theo tỉ lệ” sang “làm chủ năng lực”, xác định rõ lĩnh vực nào cần tự chủ, lĩnh vực nào cần bảo đảm khả năng thay thế, thay vì cố tự sản xuất mọi đầu vào.
Thứ hai, chuyển từ hỗ trợ dàn trải theo ngành sang tập trung theo chuỗi, từng công đoạn và những bài toán lớn của đất nước. Thứ ba, chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ dựa trên kết quả, có điều kiện và thời hạn; Nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”, chia sẻ rủi ro nhưng tránh cơ chế xin - cho. Thứ tư, chuyển từ chú trọng “thu hút FDI” sang “sử dụng hiệu quả FDI”, tăng liên kết giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam. Thứ năm, chuyển từ quản lý hoạt động sang quản lý theo kết quả, trong đó nguồn lực ngân sách phải tạo thêm nhà cung ứng đạt chuẩn và giá trị gia tăng trong nước.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực, doanh nghiệp phải là trung tâm, trong đó khu vực tư nhân cần được đặc biệt chú trọng. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và tạo thị trường ban đầu; thị trường trong nước là điểm tựa, còn xuất khẩu là thước đo năng lực cạnh tranh.
Đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đặt mục tiêu tỉ lệ nội địa hóa bình quân 40-45%, trong đó điện tử đạt 25-30%, cơ khí chế tạo 40%, ô tô 22-30%, dệt may 60%, da giày 60-65% và công nghiệp công nghệ cao 15%. Chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp hướng tới nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.
Đến năm 2035, cơ khí chế tạo phấn đấu đạt tỉ lệ nội địa hóa 50%, dệt may 70%, đồng thời doanh nghiệp Việt Nam chủ động hơn ở các khâu nghiên cứu, thiết kế và chế tạo.
“Mục tiêu thì rõ ràng. Vấn đề là tổ chức thực hiện làm sao để đạt mục tiêu đó”, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh.
Tầm nhìn đến năm 2045 là Việt Nam làm chủ công nghệ lõi trong các ngành công nghiệp nền tảng, tham gia những khâu có giá trị cao của chuỗi khu vực và toàn cầu, đồng thời duy trì được năng lực sản xuất trong mọi tình huống.
Biến dự án lớn thành “đơn đặt hàng đầu tiên”
Để đạt các mục tiêu trên, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị tập trung vào 8 nhóm nhiệm vụ, trong đó trọng tâm là hoàn thiện thể chế, tạo thị trường dẫn dắt và nâng năng lực doanh nghiệp trong nước.
Trước mắt, các chính sách công nghiệp hỗ trợ cần được thể chế hóa trong Luật Công nghiệp trọng điểm và các luật liên quan. Danh mục sản phẩm ưu tiên cũng phải được rà soát, gắn với công nghệ chiến lược và các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là nghiên cứu cơ chế để đầu tư công, các dự án hạ tầng chiến lược, mua sắm công và mua sắm của doanh nghiệp nhà nước trở thành “đơn đặt hàng đầu tiên” cho doanh nghiệp trong nước.
Các dự án lớn cần có phương án sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước trên cơ sở năng lực đáp ứng, giá trị và hàm lượng công nghệ. Việc nhập khẩu công nghệ cao cũng phải đi kèm chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực nội địa.
Các tập đoàn trong nước được đề nghị chuyển từ mua module hoàn chỉnh sang công bố tiêu chuẩn, đặt hàng từng phân hệ và hỗ trợ phát triển nhà cung ứng Việt Nam.
Thu hút FDI cần ưu tiên những dự án có trung tâm nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ và chương trình phát triển nhà cung ứng trong nước.
Song song với đó là đầu tư hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm dùng chung cho các lĩnh vực như cơ khí chính xác, điện - điện tử, bán dẫn, pin và vật liệu mới; phát triển nguồn nhân lực chiến lược; đổi mới công cụ tài chính, tín dụng; hình thành các cụm liên kết ngành và xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ năng lực nhà cung ứng quốc gia.
Riêng với Phú Thọ, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị địa phương tận dụng lợi thế công nghiệp, vị trí liên kết vùng và mạng lưới doanh nghiệp để phấn đấu trở thành một trung tâm công nghiệp hỗ trợ của cả nước.
Bộ Công Thương được yêu cầu ban hành kế hoạch hành động Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2028 trước ngày 30/10/2026, xác định rõ các chuỗi, phân hệ ưu tiên, trách nhiệm thực hiện và các mốc kiểm tra sau 12 tháng, 24 tháng.
Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng phải nghiên cứu lộ trình nội địa hóa và tăng đặt hàng trong nước từ nay đến ngày 30/6/2027.
“Không có quốc gia nào trở thành nước công nghiệp phát triển chỉ bằng lắp ráp”, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh.
Chính phủ sẽ thúc đẩy thực hiện theo tinh thần “việc đã nói thì phải làm, việc đã giao thì phải có địa chỉ, có thời hạn và có kết quả đo đếm được”, qua đó nâng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.