https://kevesko.vn/20261028/no-cong-moi-34-gdp-viet-nam-muon-tang-truong-gdp-tu-10nam-44751358.html
Nợ công mới 34% GDP, Việt Nam muốn tăng trưởng GDP từ 10%/năm
Nợ công mới 34% GDP, Việt Nam muốn tăng trưởng GDP từ 10%/năm
Sputnik Việt Nam
Sáng ngày 28/10/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã có phiên đối thoại trực tiếp kéo dài 60 phút trên sân khấu với Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế... 28.10.2026, Sputnik Việt Nam
2026-10-28T21:38+0700
2026-10-28T21:38+0700
2026-10-28T21:38+0700
việt nam
thông tin
kinh tế
lê minh hưng
nợ công
gdp
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/0a/1c/44751634_0:0:1869:1051_1920x0_80_0_0_cf7cebdc7d27bb3c276b2f5e0ee535ba.jpg
Thế giới càng bất định, Việt Nam càng phải chủ động chiến lượcTrả lời câu hỏi Việt Nam đánh giá thế nào về những dịch chuyển trên thế giới và tác động của chúng tới hướng phát triển đất nước, Thủ tướng, nhìn trên bình diện chung, thế giới đang trải qua những biến động và chuyển đổi sâu sắc.Tương quan sức mạnh không ngừng thay đổi, đưa xu hướng đa cực, đa trung tâm tiếp tục phát triển. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn cũng gia tăng, mở rộng sang kinh tế, công nghệ, dữ liệu, năng lượng và cả các chuẩn mực về thương mại, đầu tư, môi trường, quản trị.Quá trình toàn cầu hóa vẫn tiếp diễn nhưng đang được tổ chức lại, với mức độ phân mảnh lớn hơn và yêu cầu cao hơn về an ninh, khả năng tự chủ, sức chống chịu. Trong khi đó, khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển nhanh chóng, làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, cách thức quản trị cũng như việc phân bổ lợi thế và nguồn lực phát triển.Thủ tướng chỉ ra ba thách thức lớn từ những chuyển động của tình hình quốc tế và khu vực. Thứ nhất, các cơ chế, luật lệ chung trên toàn cầu cần được điều chỉnh để theo kịp thực tiễn. Thứ hai, lòng tin chiến lược suy giảm trong lúc cạnh tranh ngày một gia tăng.Thứ ba, mô hình tăng trưởng dựa vào những động lực truyền thống đã tới giới hạn, đặc biệt với các nước đang phát triển như Việt Nam. Vì thế, Việt Nam phải tăng cường sức chống chịu, nâng cao khả năng tự chủ chiến lược và tạo dựng thêm những động lực, nguồn lực tăng trưởng mới.Thông điệp được người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh là thế giới càng bất định, Việt Nam càng phải chủ động về chiến lược, củng cố nội lực và mở rộng hợp tác. Việt Nam sẽ tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời là điểm đến ổn định, an toàn cho các đối tác và nhà đầu tư.Trước đề nghị làm rõ cách Việt Nam củng cố sức chống chịu, Thủ tướng nêu năm giải pháp. Trước hết là kiên định giữ vững ổn định chính trị, xã hội và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô. Đây là điều kiện tiên quyết để bồi đắp niềm tin của người dân, doanh nghiệp trong nước và cộng đồng doanh nghiệp quốc tế.Để thực hiện mục tiêu đó, chính sách vĩ mô sẽ tiếp tục được điều hành linh hoạt, bảo đảm nền tảng ổn định vững chắc, các cân đối lớn của nền kinh tế, an ninh năng lượng và an ninh lương thực trong bối cảnh thế giới biến động mạnh. Nợ công hiện chỉ ở mức khoảng 34% GDP, tạo dư địa tài chính để Việt Nam hỗ trợ người dân và doanh nghiệp khi nền kinh tế gặp cú sốc. Đồng thời, Việt Nam vẫn bảo đảm được nguồn lực đầu tư cho hạ tầng chiến lược và những mục tiêu phát triển ưu tiên.Giải pháp thứ hai là tập trung xây dựng thể chế, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Những rào cản, điểm nghẽn, vướng mắc cần được xử lý triệt để nhằm khơi thông hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu hút các nguồn lực đầu tư.Thứ ba, Việt Nam ưu tiên tạo đột phá về hạ tầng, đặc biệt là giao thông, cảng, năng lượng và các hạ tầng thiết yếu khác. Cùng với đó là đẩy mạnh phát triển, từng bước làm chủ khoa học công nghệ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thủ tướng khẳng định Việt Nam sẽ lựa chọn các dự án đầu tư gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Hai giải pháp còn lại là đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo; củng cố quan hệ đối ngoại, mở rộng và đa dạng hóa quan hệ để tạo thêm không gian phát triển.Cuộc đối thoại tiếp tục với một câu hỏi khó từ ông Stephan Mergenthaler: Khi lòng tin suy giảm và cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, Việt Nam sẽ làm gì để duy trì tự chủ chiến lược?Theo Thủ tướng Lê Minh Hưng, trước những thay đổi nhanh chóng, phức tạp và sâu sắc của tình hình quốc tế, tự chủ chiến lược trước hết là củng cố năng lực nội tại để giữ vững quyền tự quyết. Từ đó, Việt Nam chủ động lựa chọn cách thức hợp tác phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các đối tác. Việt Nam xác định nền tảng bảo đảm tự chủ chiến lược nằm ở nội lực và sức mạnh tự cường của đất nước, đặc biệt là năng lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế.Thủ tướng cho biết Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển, đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cùng với bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, Việt Nam chú trọng an ninh năng lượng, lương thực, môi trường, con người; đa dạng hóa các chuỗi cung ứng thiết yếu để nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động từ bên ngoài.Song song với củng cố nội lực, Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế, tận dụng hiệu quả 18 hiệp định thương mại tự do đã ký kết. Qua đó, Việt Nam mở rộng thị trường, đa dạng hóa đối tác, thu hút thêm vốn, công nghệ và tri thức phục vụ phát triển.Thủ tướng nhấn mạnh, mục tiêu của Việt Nam không dừng ở việc tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam còn hướng tới nâng cao năng lực nội sinh, từng bước làm chủ công nghệ và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế. Từ câu chuyện tự chủ chiến lược, Giám đốc điều hành WEF đặt vấn đề về vai trò Việt Nam mong muốn đảm nhận trong kiến trúc kinh tế toàn cầu đang hình thành, với tầm nhìn đến năm 2035.Thủ tướng cho biết Việt Nam mong muốn trở thành một trung tâm mới nổi về công nghệ số, năng lượng mới, năng lượng xanh và nông nghiệp xanh, đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng của khu vực và thế giới. Việt Nam cũng muốn giữ vai trò một mắt xích quan trọng, đáng tin cậy trong các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, cũng như trong các cực tăng trưởng mới.Theo Thủ tướng, có ba thế mạnh đặc trưng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu này: vị trí địa chiến lược; sự ổn định cao về chính trị, kinh tế vĩ mô; và vị thế một điểm sáng tăng trưởng của khu vực, thế giới.Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược, mục tiêu lớn, quyết tâm cao và hành động quyết liệt. Quá trình này diễn ra đúng lúc kinh tế thế giới đang tái cấu trúc mạnh mẽ. Nền kinh tế Việt Nam có nền tảng nội lực đủ rộng để vừa tiếp nhận, vừa đóng góp vào các mạng lưới tăng trưởng mới.Thủ tướng nhận định, sự kết hợp giữa con người, năng lực sản xuất, thị trường và nguồn lực tạo cơ sở quan trọng để Việt Nam tiếp nhận đầu tư, công nghệ. Trên nền tảng đó, Việt Nam cũng ngày càng có khả năng tham gia tạo ra giá trị, công nghệ và những động lực tăng trưởng mới.Kinh tế tăng trưởng cao, GDP phấn đấu trên 10%/nămKhi được đề nghị gửi thông điệp tới cộng đồng nhà đầu tư quốc tế, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam đang tiến hành những đổi mới mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.Ông mong muốn trong quá trình này, cộng đồng quốc tế nhìn thấy cả nhu cầu đầu tư, mở rộng thị trường lẫn cơ hội đồng hành với Việt Nam.Với tinh thần chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam”, Thủ tướng mong các doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, các viện nghiên cứu và trường đại học để phát triển công nghệ, nguồn nhân lực cùng mạng lưới nhà cung ứng.Theo ông, sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam sẽ mang đến thêm những đối tác có năng lực cho nhà đầu tư nước ngoài. Khi đó, mạng lưới sản xuất, kinh doanh mà các bên cùng tham gia sẽ hoạt động hiệu quả hơn, thích ứng tốt hơn và có sức cạnh tranh cao hơn. Đây cũng chính là lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài.Trong 9 tháng năm 2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng cao, gắn với ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt 9,01%, mức cao nhất kể từ năm 2011. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cho đến nay đã đạt trên 987 tỷ USD, tăng trên 30% so với cùng kỳ năm trước và dự kiến cả năm 2026 sẽ vượt mức 1.100 tỷ USD.Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng đầu năm đạt hơn 120 tỷ USD, tăng 15,1%. Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026 xếp thứ 43/139 nền kinh tế. Trong đó, Việt Nam đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo trong tổng giao dịch thương mại hàng hóa.Hiện nay, Việt Nam quyết tâm và nỗ lực cao nhất để thực hiện thắng lợi hai mục tiêu chiến lược 100 năm: Đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong đó, xác định giai đoạn 2026–2030 là giai đoạn mang tính bản lề với quyết tâm phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, trên nền tảng giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.
https://kevesko.vn/20261020/thieu-dien-o-viet-nam-co-the-anh-huong-muc-tieu-tang-truong-kinh-te-2-con-so-44639642.html
https://kevesko.vn/20261016/kinh-te-viet-nam-tang-truong-top-dau-the-gioi-mo-rong-quyen-kinh-doanh-cua-dang-vien-44578042.html
https://kevesko.vn/20261013/kinh-te-viet-nam-co-the-tang-gap-4-lan-thai-lan-gan-gap-doi-trung-quoc-44534645.html
https://kevesko.vn/20260929/kinh-te-viet-nam-gay-kinh-ngac-gdp-nua-cuoi-nam-co-the-tang-106-44324977.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/0a/1c/44751634_74:0:1703:1222_1920x0_80_0_0_36ddbe2ad024f85311b323e9d7ef105a.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, thông tin, kinh tế, lê minh hưng, nợ công, gdp
việt nam, thông tin, kinh tế, lê minh hưng, nợ công, gdp
Thế giới càng bất định, Việt Nam càng phải chủ động chiến lược
Trả lời câu hỏi Việt Nam đánh giá thế nào về những dịch chuyển trên thế giới và tác động của chúng tới hướng phát triển đất nước,
Thủ tướng, nhìn trên bình diện chung, thế giới đang trải qua những biến động và chuyển đổi sâu sắc.
Tương quan sức mạnh không ngừng thay đổi, đưa xu hướng đa cực, đa trung tâm tiếp tục phát triển. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn cũng gia tăng, mở rộng sang kinh tế, công nghệ, dữ liệu, năng lượng và cả các chuẩn mực về thương mại, đầu tư, môi trường, quản trị.
Quá trình toàn cầu hóa vẫn tiếp diễn nhưng đang được tổ chức lại, với mức độ phân mảnh lớn hơn và yêu cầu cao hơn về an ninh, khả năng tự chủ, sức chống chịu. Trong khi đó, khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển nhanh chóng, làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, cách thức quản trị cũng như việc phân bổ lợi thế và nguồn lực phát triển.
Thủ tướng chỉ ra ba thách thức lớn từ những chuyển động của tình hình quốc tế và khu vực. Thứ nhất, các cơ chế, luật lệ chung trên toàn cầu cần được điều chỉnh để theo kịp thực tiễn. Thứ hai, lòng tin chiến lược suy giảm trong lúc cạnh tranh ngày một gia tăng.
Thứ ba, mô hình tăng trưởng dựa vào những động lực truyền thống đã tới giới hạn, đặc biệt với các nước đang phát triển như Việt Nam. Vì thế, Việt Nam phải tăng cường sức chống chịu, nâng cao khả năng tự chủ chiến lược và tạo dựng thêm những động lực, nguồn lực tăng trưởng mới.
Thông điệp được người đứng đầu
Chính phủ nhấn mạnh là thế giới càng bất định, Việt Nam càng phải chủ động về chiến lược, củng cố nội lực và mở rộng hợp tác. Việt Nam sẽ tiếp tục là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời là điểm đến ổn định, an toàn cho các đối tác và nhà đầu tư.
Trước đề nghị làm rõ cách Việt Nam củng cố sức chống chịu, Thủ tướng nêu năm giải pháp. Trước hết là kiên định giữ vững ổn định chính trị, xã hội và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô. Đây là điều kiện tiên quyết để bồi đắp niềm tin của người dân, doanh nghiệp trong nước và cộng đồng doanh nghiệp quốc tế.
Để thực hiện mục tiêu đó, chính sách vĩ mô sẽ tiếp tục được điều hành linh hoạt, bảo đảm nền tảng ổn định vững chắc, các cân đối lớn của nền kinh tế, an ninh năng lượng và an ninh lương thực trong bối cảnh thế giới biến động mạnh. Nợ công hiện chỉ ở mức khoảng 34% GDP, tạo dư địa tài chính để Việt Nam hỗ trợ người dân và doanh nghiệp khi nền kinh tế gặp cú sốc. Đồng thời, Việt Nam vẫn bảo đảm được nguồn lực đầu tư cho hạ tầng chiến lược và những mục tiêu phát triển ưu tiên.
Giải pháp thứ hai là tập trung xây dựng thể chế, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Những rào cản, điểm nghẽn, vướng mắc cần được xử lý triệt để nhằm khơi thông hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu hút các nguồn lực đầu tư.
Thứ ba, Việt Nam ưu tiên tạo đột phá về hạ tầng, đặc biệt là giao thông, cảng, năng lượng và các hạ tầng thiết yếu khác. Cùng với đó là đẩy mạnh phát triển, từng bước làm chủ khoa học công nghệ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thủ tướng khẳng định Việt Nam sẽ lựa chọn các dự án đầu tư gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Hai giải pháp còn lại là đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo; củng cố quan hệ đối ngoại, mở rộng và đa dạng hóa quan hệ để tạo thêm không gian phát triển.
Cuộc đối thoại tiếp tục với một câu hỏi khó từ ông Stephan Mergenthaler: Khi lòng tin suy giảm và cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, Việt Nam sẽ làm gì để duy trì tự chủ chiến lược?
Theo Thủ tướng Lê Minh Hưng, trước những thay đổi nhanh chóng, phức tạp và sâu sắc của tình hình quốc tế, tự chủ chiến lược trước hết là củng cố năng lực nội tại để giữ vững quyền tự quyết. Từ đó, Việt Nam chủ động lựa chọn cách thức hợp tác phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các đối tác. Việt Nam xác định nền tảng bảo đảm tự chủ chiến lược nằm ở nội lực và sức mạnh tự cường của đất nước, đặc biệt là năng lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thủ tướng cho biết Việt Nam sẽ tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển, đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cùng với bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, Việt Nam chú trọng an ninh năng lượng, lương thực, môi trường, con người; đa dạng hóa các chuỗi cung ứng thiết yếu để nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động từ bên ngoài.
Song song với củng cố nội lực, Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế, tận dụng hiệu quả 18 hiệp định thương mại tự do đã ký kết. Qua đó, Việt Nam mở rộng thị trường, đa dạng hóa đối tác, thu hút thêm vốn, công nghệ và tri thức phục vụ phát triển.
Thủ tướng nhấn mạnh, mục tiêu của Việt Nam không dừng ở việc tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam còn hướng tới nâng cao năng lực nội sinh, từng bước làm chủ công nghệ và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế. Từ câu chuyện tự chủ chiến lược, Giám đốc điều hành WEF đặt vấn đề về vai trò Việt Nam mong muốn đảm nhận trong kiến trúc kinh tế toàn cầu đang hình thành, với tầm nhìn đến năm 2035.
Thủ tướng cho biết Việt Nam mong muốn trở thành một trung tâm mới nổi về công nghệ số, năng lượng mới, năng lượng xanh và nông nghiệp xanh, đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng của khu vực và thế giới. Việt Nam cũng muốn giữ vai trò một mắt xích quan trọng, đáng tin cậy trong các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, cũng như trong các cực tăng trưởng mới.
Theo Thủ tướng, có ba thế mạnh đặc trưng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu này: vị trí địa chiến lược; sự ổn định cao về chính trị, kinh tế vĩ mô; và vị thế một điểm sáng tăng trưởng của khu vực, thế giới.
Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược, mục tiêu lớn, quyết tâm cao và hành động quyết liệt. Quá trình này diễn ra đúng lúc kinh tế thế giới đang tái cấu trúc mạnh mẽ. Nền kinh tế Việt Nam có nền tảng nội lực đủ rộng để vừa tiếp nhận, vừa đóng góp vào các mạng lưới tăng trưởng mới.
Thủ tướng nhận định, sự kết hợp giữa con người, năng lực sản xuất, thị trường và nguồn lực tạo cơ sở quan trọng để Việt Nam tiếp nhận đầu tư, công nghệ. Trên nền tảng đó, Việt Nam cũng ngày càng có khả năng tham gia tạo ra giá trị, công nghệ và những động lực tăng trưởng mới.
Kinh tế tăng trưởng cao, GDP phấn đấu trên 10%/năm
Khi được đề nghị gửi thông điệp tới cộng đồng nhà đầu tư quốc tế, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam đang tiến hành những đổi mới mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Ông mong muốn trong quá trình này, cộng đồng quốc tế nhìn thấy cả nhu cầu đầu tư, mở rộng thị trường lẫn cơ hội đồng hành với Việt Nam.
Với tinh thần chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam”, Thủ tướng mong các doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, các viện nghiên cứu và trường đại học để phát triển công nghệ, nguồn nhân lực cùng mạng lưới nhà cung ứng.
Theo ông, sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam sẽ mang đến thêm những đối tác có năng lực cho nhà đầu tư nước ngoài. Khi đó, mạng lưới sản xuất, kinh doanh mà các bên cùng tham gia sẽ hoạt động hiệu quả hơn, thích ứng tốt hơn và có sức cạnh tranh cao hơn. Đây cũng chính là lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong 9 tháng năm 2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng cao, gắn với ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt 9,01%, mức cao nhất kể từ năm 2011. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cho đến nay đã đạt trên 987 tỷ USD, tăng trên 30% so với cùng kỳ năm trước và dự kiến cả năm 2026 sẽ vượt mức 1.100 tỷ USD.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng đầu năm đạt hơn 120 tỷ USD, tăng 15,1%. Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026 xếp thứ 43/139 nền
kinh tế. Trong đó, Việt Nam đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo trong tổng giao dịch thương mại hàng hóa.
Hiện nay, Việt Nam quyết tâm và nỗ lực cao nhất để thực hiện thắng lợi hai mục tiêu chiến lược 100 năm: Đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trong đó, xác định giai đoạn 2026–2030 là giai đoạn mang tính bản lề với quyết tâm phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, trên nền tảng giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.