https://kevesko.vn/20261106/gdp-cao-gap-15-lan-muc-binh-quan-nhieu-nam-viet-nam-co-the-can-them-hang-nghin-ty-usd-44865897.html
GDP cao gấp 1,5 lần mức bình quân nhiều năm, Việt Nam có thể cần thêm hàng nghìn tỷ USD
GDP cao gấp 1,5 lần mức bình quân nhiều năm, Việt Nam có thể cần thêm hàng nghìn tỷ USD
Sputnik Việt Nam
Tổng vốn đầu tư của khu vực công và tư nhân tại Việt Nam có thể lên tới hàng nghìn tỷ USD trong 5 năm tới. Đây là dự báo của ông Sacha Dray, chuyên gia kinh tế... 06.11.2026, Sputnik Việt Nam
2026-11-06T19:55+0700
2026-11-06T19:55+0700
2026-11-06T19:56+0700
việt nam
thông tin
kinh tế
gdp
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/0b/06/44866417_0:61:640:421_1920x0_80_0_0_5053313c78f3a5f36fb1a41d00337380.jpg
GDP tăng tốc dù tín dụng chậm lạiTại phiên thảo luận “Tái định hình động lực tăng trưởng, khơi thông dòng vốn và kết nối chuỗi giá trị”, các chuyên gia chỉ ra rằng kinh tế Việt Nam đang tăng tốc dù tín dụng tăng chậm hơn năm trước. Để duy trì đà tăng trưởng trong những năm tới, Việt Nam cần mở rộng các kênh huy động vốn dài hạn, đồng thời tháo gỡ vướng mắc khiến dòng tiền mắc lại ở các dự án.Ông Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách tại VinUniversity, nguyên Vụ trưởng Vụ Kinh tế Tổng hợp thuộc Ban Kinh tế Trung ương, cho biết tốc độ tăng tín dụng thường cao gấp khoảng hai lần tốc độ tăng GDP. Tuy nhiên, năm 2026, tốc độ tăng GDP cao gấp 1,5 lần mức bình quân nhiều năm, trong khi tín dụng cả năm dự báo tăng 16%, thấp hơn mức 19,7% của năm trước.Theo ông Tú Anh, sự trở lại của công nghiệp chế biến, chế tạo là một trong những thay đổi rõ nhất. Ngành này đóng góp 51% vào tăng trưởng, trong khi riêng xây dựng tăng 18%. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng 15,1% và tín dụng hướng nhiều hơn vào công nghiệp, xây dựng và nông nghiệp. Các nguồn vốn ngoài ngân hàng cũng đóng vai trò đáng kể. Thị trường chứng khoán cung ứng 336,3 nghìn tỷ đồng. Tính cả nguồn từ ngân sách nhà nước, con số này vào khoảng 550.000 tỷ đồng.Ông Tú Anh nhận diện ba động lực tăng trưởng mới gồm làn sóng FDI gắn với trí tuệ nhân tạo và điện tử, đà tăng của đầu tư tư nhân và đầu tư công, cùng sự cải thiện năng suất trong từng ngành. Xuất khẩu điện tử tăng 71%, trong khi đầu tư tư nhân tăng 14,9% và đầu tư công tăng 22,6%.Từ góc nhìn dài hạn, ông Sacha Dray – chuyên gia kinh tế quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam – đánh giá Việt Nam có thể duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5% mỗi năm trong những năm tới, cao hơn mức bình quân của châu Á. Tuy nhiên, theo ông, bước chuyển từ nhóm thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao phụ thuộc nhiều vào khả năng nâng năng suất lao động. Những nền kinh tế vượt qua bẫy thu nhập trung bình có tốc độ tăng năng suất nhanh gấp đôi các nước mắc kẹt. Với Việt Nam, điều đó đặt ra yêu cầu phát triển doanh nghiệp tư nhân trong nước, đào tạo lao động có kỹ năng chuyên sâu, đầu tư hạ tầng hiện đại và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.Mở rộng thị trường vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tưÔng Dray cho rằng nguồn lực tài chính trong nước khá dồi dào, nhưng cơ chế huy động và sử dụng vốn cần được cải thiện. Riêng kế hoạch tài chính công dự kiến quy mô vay nợ và phát hành trái phiếu trong 5 năm tới sẽ gấp ba lần chu kỳ trước. Trong khi đó, thị trường trái phiếu Chính phủ mới có quy mô khoảng 20% GDP và sức mua vẫn chủ yếu đến từ các ngân hàng thương mại trong nước.Ông Dray dẫn số liệu cho biết, nhà đầu tư nước ngoài nắm khoảng 0,1% trái phiếu chính phủ tại Việt Nam, so với 15% ở Indonesia và 20% ở cả Malaysia lẫn Thái Lan. Theo ông, Việt Nam còn nhiều dư địa thu hút các nhà đầu tư tổ chức quốc tế vào thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công trình dài hạn. Đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường vốn và chứng khoán, hoàn thiện khung pháp lý, tăng minh bạch và nâng chuẩn quản trị doanh nghiệp là những bước có thể giúp thu hút dòng vốn này.Với các dự án hạ tầng và năng lượng bền vững, chuyên gia WB đề xuất dùng vốn đầu tư công làm vốn mồi, kết hợp mô hình tài chính hỗn hợp và cơ chế cho vay lại qua các tổ chức phát triển quốc tế. Theo ông, khoảng 80% nhu cầu vốn dài hạn cần được đáp ứng từ khu vực tư nhân.Cũng tại diễn đàn, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, đề xuất phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng để kết nối trực tiếp dòng vốn quốc tế với doanh nghiệp trong nước. Ông cũng gợi ý ứng dụng công nghệ token hóa để chia nhỏ giá trị tài sản, qua đó huy động vốn linh hoạt hơn, và dùng dữ liệu lớn để chấm điểm tín dụng, giảm sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp. Theo ông, các giải pháp này cần thời gian để hoàn thiện khung pháp lý.Gỡ vướng dự án để dòng tiền quay lại ngân hàngÔng Trần Minh Đạt, Phó Tổng giám đốc MB, cho rằng nguồn vốn ngân hàng có thể đáp ứng nếu GDP tăng ở mức 4-5%. Khi Việt Nam hướng tới tăng trưởng hai chữ số, thị trường vốn cần đảm nhận phần lớn hơn trong việc tài trợ cho nền kinh tế.Theo ông Đạt, một nguyên nhân gây áp lực lên thanh khoản ngân hàng là tiến độ giải ngân đầu tư công chưa theo kịp tốc độ thu ngân sách. Với mức thặng dư khoảng 313,6 nghìn tỷ đồng, một lượng tiền lớn từ doanh nghiệp và người dân lưu lại tại Kho bạc Nhà nước, chậm quay về các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, tiền mặt vẫn lưu thông đáng kể ngoài hệ thống, nhất là trong khu vực hộ kinh doanh, còn các ngân hàng đã dùng gần hết giấy tờ có giá để vay qua thị trường mở.Từ thực tế đó, ông Đạt cho rằng cần ưu tiên tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các dự án bất động sản và hạ tầng giao thông. Khi một dự án lớn được triển khai trở lại, tiền từ chủ đầu tư sẽ luân chuyển đến nhà thầu, doanh nghiệp vật liệu xây dựng và các đơn vị dịch vụ. Nguồn thu từ những hợp đồng này có thể giúp doanh nghiệp trả nợ và đưa dòng tiền trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi, qua đó giảm áp lực thanh khoản và nợ xấu.
https://kevesko.vn/20261102/vuot-indonesia-gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-co-the-dat-5259-usd-xep-thu-5-asean-44812828.html
https://kevesko.vn/20261101/gdp-viet-nam-co-the-tang-11-no-cong-thuoc-nhom-20-nen-kinh-te-thap-nhat-the-gioi-44792318.html
https://kevesko.vn/20261030/gdp-danh-nghia-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-du-bao-dat-5259-usd-vuot-indonesia-44785471.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/0b/06/44866417_0:0:640:480_1920x0_80_0_0_7c33aa424b9babcc9a916ef1cf936fdd.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, thông tin, kinh tế, gdp
việt nam, thông tin, kinh tế, gdp
GDP cao gấp 1,5 lần mức bình quân nhiều năm, Việt Nam có thể cần thêm hàng nghìn tỷ USD
19:55 06.11.2026 (Đã cập nhật: 19:56 06.11.2026) Tổng vốn đầu tư của khu vực công và tư nhân tại Việt Nam có thể lên tới hàng nghìn tỷ USD trong 5 năm tới. Đây là dự báo của ông Sacha Dray, chuyên gia kinh tế quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, tại Diễn đàn Kinh tế MB Economic Insights do Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tổ chức ngày 6/11.
GDP tăng tốc dù tín dụng chậm lại
Tại phiên thảo luận “Tái định hình động lực tăng trưởng, khơi thông dòng vốn và kết nối chuỗi giá trị”, các chuyên gia chỉ ra rằng kinh tế Việt Nam đang tăng tốc dù tín dụng tăng chậm hơn năm trước. Để duy trì đà tăng trưởng trong những năm tới, Việt Nam cần mở rộng các kênh huy động vốn dài hạn, đồng thời tháo gỡ vướng mắc khiến dòng tiền mắc lại ở các dự án.
Ông Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách tại VinUniversity, nguyên Vụ trưởng Vụ Kinh tế Tổng hợp thuộc Ban Kinh tế Trung ương, cho biết tốc độ tăng tín dụng thường cao gấp khoảng hai lần tốc độ tăng GDP. Tuy nhiên, năm 2026, tốc độ tăng GDP cao gấp 1,5 lần mức bình quân nhiều năm, trong khi tín dụng cả năm dự báo tăng 16%, thấp hơn mức 19,7% của năm trước.
Theo ông Tú Anh, sự trở lại của công nghiệp chế biến, chế tạo là một trong những thay đổi rõ nhất. Ngành này đóng góp 51% vào tăng trưởng, trong khi riêng xây dựng tăng 18%. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng 15,1% và tín dụng hướng nhiều hơn vào công nghiệp, xây dựng và nông nghiệp. Các nguồn vốn ngoài ngân hàng cũng đóng vai trò đáng kể. Thị trường chứng khoán cung ứng 336,3 nghìn tỷ đồng. Tính cả nguồn từ ngân sách nhà nước, con số này vào khoảng 550.000 tỷ đồng.
Ông Tú Anh nhận diện ba động lực tăng trưởng mới gồm làn sóng FDI gắn với trí tuệ nhân tạo và điện tử, đà tăng của đầu tư tư nhân và đầu tư công, cùng sự cải thiện năng suất trong từng ngành. Xuất khẩu điện tử tăng 71%, trong khi đầu tư tư nhân tăng 14,9% và đầu tư công tăng 22,6%.
Từ góc nhìn dài hạn, ông Sacha Dray – chuyên gia kinh tế quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam – đánh giá Việt Nam có thể duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5% mỗi năm trong những năm tới, cao hơn mức bình quân của
châu Á. Tuy nhiên, theo ông, bước chuyển từ nhóm thu nhập trung bình cao lên thu nhập cao phụ thuộc nhiều vào khả năng nâng năng suất lao động. Những nền kinh tế vượt qua bẫy thu nhập trung bình có tốc độ tăng năng suất nhanh gấp đôi các nước mắc kẹt. Với Việt Nam, điều đó đặt ra yêu cầu phát triển doanh nghiệp tư nhân trong nước, đào tạo lao động có kỹ năng chuyên sâu, đầu tư hạ tầng hiện đại và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
Mở rộng thị trường vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư
Ông Dray cho rằng nguồn lực tài chính trong nước khá dồi dào, nhưng cơ chế huy động và sử dụng vốn cần được cải thiện. Riêng kế hoạch tài chính công dự kiến quy mô vay nợ và phát hành trái phiếu trong 5 năm tới sẽ gấp ba lần chu kỳ trước. Trong khi đó, thị trường trái phiếu Chính phủ mới có quy mô khoảng 20% GDP và sức mua vẫn chủ yếu đến từ các ngân hàng thương mại trong nước.
Ông Dray dẫn số liệu cho biết, nhà đầu tư nước ngoài nắm khoảng 0,1% trái phiếu chính phủ tại Việt Nam, so với 15% ở Indonesia và 20% ở cả Malaysia lẫn
Thái Lan. Theo ông, Việt Nam còn nhiều dư địa thu hút các nhà đầu tư tổ chức quốc tế vào thị trường trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công trình dài hạn. Đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường vốn và chứng khoán, hoàn thiện khung pháp lý, tăng minh bạch và nâng chuẩn quản trị doanh nghiệp là những bước có thể giúp thu hút dòng vốn này.
Với các dự án hạ tầng và năng lượng bền vững, chuyên gia WB đề xuất dùng vốn đầu tư công làm vốn mồi, kết hợp mô hình tài chính hỗn hợp và cơ chế cho vay lại qua các tổ chức phát triển quốc tế. Theo ông, khoảng 80% nhu cầu vốn dài hạn cần được đáp ứng từ khu vực tư nhân.
Cũng tại diễn đàn, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, đề xuất phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng để kết nối trực tiếp dòng vốn quốc tế với doanh nghiệp trong nước. Ông cũng gợi ý ứng dụng công nghệ token hóa để chia nhỏ giá trị tài sản, qua đó huy động vốn linh hoạt hơn, và dùng dữ liệu lớn để chấm điểm tín dụng, giảm sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp. Theo ông, các giải pháp này cần thời gian để hoàn thiện khung pháp lý.
Gỡ vướng dự án để dòng tiền quay lại ngân hàng
Ông Trần Minh Đạt, Phó Tổng giám đốc MB, cho rằng nguồn vốn ngân hàng có thể đáp ứng nếu
GDP tăng ở mức 4-5%. Khi Việt Nam hướng tới tăng trưởng hai chữ số, thị trường vốn cần đảm nhận phần lớn hơn trong việc tài trợ cho nền kinh tế.
Theo ông Đạt, một nguyên nhân gây áp lực lên thanh khoản ngân hàng là tiến độ giải ngân đầu tư công chưa theo kịp tốc độ thu ngân sách. Với mức thặng dư khoảng 313,6 nghìn tỷ đồng, một lượng tiền lớn từ doanh nghiệp và người dân lưu lại tại Kho bạc Nhà nước, chậm quay về các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, tiền mặt vẫn lưu thông đáng kể ngoài hệ thống, nhất là trong khu vực hộ kinh doanh, còn các ngân hàng đã dùng gần hết giấy tờ có giá để vay qua thị trường mở.
Từ thực tế đó, ông Đạt cho rằng cần ưu tiên tháo gỡ vướng mắc pháp lý cho các dự án bất động sản và hạ tầng giao thông. Khi một dự án lớn được triển khai trở lại, tiền từ chủ đầu tư sẽ luân chuyển đến nhà thầu, doanh nghiệp vật liệu xây dựng và các đơn vị dịch vụ. Nguồn thu từ những hợp đồng này có thể giúp doanh nghiệp trả nợ và đưa dòng tiền trở lại hệ thống ngân hàng dưới dạng tiền gửi, qua đó giảm áp lực thanh khoản và nợ xấu.