Kế hoạch vay nợ công của Chính phủ Việt Nam
Theo quyết định, tổng mức vay của Chính phủ trong năm 2026 tối đa 969.796 tỷ đồng. Trong đó, vay cho cân đối ngân sách trung ương tối đa 959.705 tỷ đồng, gồm vay bù đắp bội chi ngân sách trung ương tối đa 583.700 tỷ đồng và vay để trả nợ gốc không quá 376.005 tỷ đồng. Ngoài ra, vay về cho vay lại khoảng 10.092 tỷ đồng.
Về trả nợ, tổng mức trả nợ của Chính phủ năm 2026 khoảng 534.739 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 493.405 tỷ đồng và trả nợ các dự án cho vay lại khoảng 41.334 tỷ đồng.
Đối với chính quyền địa phương, tổng mức vay năm 2026 khoảng 26.079 tỷ đồng, trong đó tổng trả nợ gốc khoảng 3.979 tỷ đồng.
Về vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, hạn mức vay trung và dài hạn theo phương thức tự vay, tự trả khoảng 6.124 triệu USD/năm; tốc độ tăng dư nợ nước ngoài ngắn hạn khoảng 19 - 20% so với dư nợ cuối năm 2025.
Quyết định nêu rõ, kế hoạch vay và trả nợ năm 2026 thực hiện trong các mức tối đa đã phê duyệt; trường hợp phát sinh nhu cầu vượt mức, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh.
Đối với các khoản vay nước ngoài của Chính phủ cho chương trình, dự án, Thủ tướng giao các bộ, cơ quan trung ương và địa phương khẩn trương phân bổ kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương năm 2026 theo đúng danh mục và mức vốn từng dự án theo Luật Đầu tư công. Các dự án vay nước ngoài mới được ưu tiên cho những công trình quan trọng, có tính chất xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái, đồng thời khắc phục tình trạng giải ngân chậm đối với vốn ODA và vay ưu đãi.
Các bộ, ngành, địa phương phải đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, bảo đảm phù hợp với kế hoạch trung hạn 5 năm, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, tiết kiệm, chống lãng phí.
Bộ Tài chính được giao xây dựng đề án phát hành trái phiếu quốc tế trình cấp có thẩm quyền để sẵn sàng huy động khi cần thiết; nghiên cứu phương thức huy động vốn vay mới; mở rộng cơ sở thu, ưu tiên sử dụng nguồn vượt thu và tiết kiệm chi ngân sách để giảm bội chi, tăng chi trả nợ.
Bộ cũng đồng thời phải kiểm soát chặt chẽ bội chi ngân sách nhà nước, bội chi ngân sách địa phương và nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ; đẩy mạnh cơ chế rút vốn ODA, vay ưu đãi theo hình thức hỗ trợ trực tiếp ngân sách; điều hành linh hoạt kỳ hạn, thời điểm phát hành trái phiếu Chính phủ gắn với quản lý ngân quỹ nhằm giảm chi phí và bảo đảm an toàn nợ công, thanh khoản thị trường.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm kiểm soát việc thực hiện hạn mức nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh, bảo đảm trong hạn mức được phê duyệt; chủ trì quản lý nợ nước ngoài khu vực tư nhân và phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ khi có diễn biến tiêu cực.