Việt Nam cần 260 tỷ USD/năm để tăng trưởng trên 10%, lấy tiền ở đâu?

© Ảnh : Nguyễn NgọcTS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Việt Nam
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 04.01.2026
Đăng ký
Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đứng trước yêu cầu huy động nguồn vốn đầu tư rất lớn.
Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Việt Nam, mỗi năm nền kinh tế cần huy động khoảng 40% GDP, tương đương 260 tỷ USD, từ nhiều kênh như ngân sách, tín dụng, thị trường chứng khoán, FDI, kiều hối và các kênh tài chính mới như thị trường carbon hay tài sản số.

Việt Nam đang ở giai đoạn bản lề

Theo các chuyên gia kinh tế, Việt Nam đang đứng trước giai đoạn bản lề của quá trình phát triển, khi nhiều yếu tố thuận lợi trong và ngoài nước cùng hội tụ, tạo điều kiện để nền kinh tế tăng tốc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.
Việc tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu không chỉ mở rộng thị trường mà còn nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.
Lợi thế địa chính trị nằm sát Trung Quốc – “công xưởng của thế giới”, trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ – Trung kéo dài và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng theo mô hình “Trung Quốc +1”, “+2”, đã giúp Việt Nam nổi lên như điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI chất lượng cao. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, cơ hội này đòi hỏi Việt Nam phải theo đuổi chính sách thu hút đầu tư chọn lọc, tập trung vào các ngành có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ lớn, đồng thời bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và an toàn xã hội.
Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam Shantanu Chakraborty - Sputnik Việt Nam, 1920, 03.01.2026
Kinh tế Việt Nam khẳng định sức chống chịu đáng nể
Ở trong nước, sau nhiều thập kỷ tăng trưởng, Việt Nam đã xây dựng được nền tảng nội lực tương đối vững chắc với nhiều ngành then chốt như điện, công nghệ thông tin, điện tử, chế tạo máy, cùng sự hiện diện của các doanh nghiệp lớn như Vingroup, FPT, Viettel, PVN. Song song với đó, việc thí điểm các cơ chế mở như trung tâm tài chính tại TP.HCM, Đà Nẵng và Khu thương mại tự do Hải Phòng được kỳ vọng tạo ra các cực tăng trưởng và kênh thu hút vốn mới trong bối cảnh cạnh tranh khu vực gia tăng.
Đặc biệt, các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết 66, 57, 68, 98, 138 cùng các cơ chế đặc thù cho dự án hạ tầng trọng điểm và các mô hình mới như FTZ, TOD đang hình thành khuôn khổ pháp lý quan trọng, góp phần giải phóng tiềm năng tăng trưởng của các trung tâm kinh tế.
Một lợi thế đáng kể khác là dân số vàng, với hơn 100 triệu dân và khoảng 65–70% trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, lợi thế này chỉ có thể phát huy hiệu quả nếu Việt Nam đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động giá rẻ và gia công sang mô hình dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng và năng suất lao động. Cùng với đó, sự gia tăng nhanh của tầng lớp giàu và siêu giàu phản ánh tiềm năng tích lũy vốn trong xã hội ngày càng lớn, tạo thêm dư địa cho đầu tư và phát triển trong giai đoạn tới.

Nhu cầu vốn khổng lồ nhưng Việt Nam có vị thế tốt

Trong bối cảnh đó, yêu cầu về nguồn lực cho tăng trưởng trở nên đặc biệt cấp bách. Theo tính toán của TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Việt Nam, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 – 2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động mỗi năm ước tương đương khoảng 40% GDP, tức khoảng 260 tỷ USD theo giá hiện hành. Con số này chưa bao gồm nhu cầu vốn bổ sung cho ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng và phát triển hạ tầng số.
Nguồn vốn cho tăng trưởng được kỳ vọng đến từ nhiều kênh như ngân sách nhà nước, tín dụng, thị trường chứng khoán, FDI, kiều hối và các kênh tài chính mới như thị trường carbon và tài sản số. Đánh giá về dư địa huy động, ông Lực cho rằng Việt Nam đang sở hữu nền tảng tích lũy tương đối tích cực, với tỷ lệ tiết kiệm khoảng 37% GDP, trong khi tỷ lệ đầu tư ở mức khoảng 31% GDP. Điều này cho thấy nguồn lực trong dân cư và doanh nghiệp còn khá lớn, bao gồm cả phần vốn đang tích tụ trong hệ thống ngân hàng.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 02.01.2026
Việt Nam: Xuất nhập khẩu kỷ lục, nhưng đã đến lúc đổi cách làm
So sánh quốc tế cũng cho thấy, với mức tiết kiệm khoảng 37% GDP, Việt Nam có nền tảng tích lũy cao hơn nhiều quốc gia có trình độ phát triển tương đồng, đặc biệt trong khu vực ASEAN. Khu vực tài chính trong nước cũng đã tăng trưởng mạnh trong 15–16 năm qua, với tổng tài sản ngân hàng, vốn hóa thị trường cổ phiếu, dư nợ trái phiếu và doanh thu bảo hiểm đều duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 16,5% mỗi năm.
Ngoài các kênh truyền thống, theo Doanh nghiệp và Kinh doanh dẫn ý kiến của TS. Cấn Văn Lực cho rằng vẫn còn nhiều nguồn lực tiềm năng cần được khai thác hiệu quả hơn, bao gồm tài chính xanh quốc tế, thặng dư thương mại, dòng vốn FDI, kiều hối và du lịch. Riêng kiều hối qua hệ thống ngân hàng mỗi năm đạt khoảng 7–10 tỷ USD. Các nguồn lực như vàng trong dân, vốn tồn đọng trong bất động sản và nguồn lực tiết kiệm từ chống tham nhũng, chống lãng phí cũng được đánh giá là rất lớn.
“Việc nâng cao hiệu quả hoàn thuế, rút ngắn thời gian và cải thiện quy trình cũng được xem là một cách bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế”, TS. Cấn Văn Lực lưu ý.
Đồng thời, các kênh mới như trung tâm tài chính quốc tế, thị trường tài sản số và thị trường carbon được kỳ vọng sẽ cải thiện khả năng luân chuyển dòng vốn nếu được thiết kế và quản lý phù hợp.
Tuy nhiên, theo TS. Cấn Văn Lực, quy mô nguồn lực lớn cũng đi kèm không ít thách thức. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, từ khoảng 3,4% xuống còn xấp xỉ 3% mỗi năm, nền kinh tế Việt Nam với độ mở cao dễ chịu tác động từ các cú sốc bên ngoài. Cùng với đó là các rủi ro ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh và các yếu tố phi truyền thống.
Đáng chú ý, cấu trúc thị trường tài chính hiện bộc lộ rõ những điểm nghẽn mang tính hệ thống. Tín dụng ngân hàng đang chiếm khoảng 50–55% tổng vốn cung ứng cho nền kinh tế, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới khoảng 145–147% và có thể tiến sát 180% GDP vào năm 2030 nếu duy trì tốc độ tăng hiện nay.
“Các kênh dẫn vốn trung và dài hạn như thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp phát triển chậm, quy mô còn nhỏ, khiến gánh nặng tiếp tục dồn lên hệ thống ngân hàng”, ông Lực nhấn mạnh.
GS. TS. Jonathan R. Pincus, nguyên Chuyên gia Kinh tế trưởng UNDP tại Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 01.01.2026
Việt Nam có thể đua theo hổ châu Á
Đồng tình với nhận định này, TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng mức độ phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng cho khu vực tư nhân, phản ánh hiệu quả phân bổ vốn còn hạn chế và tiềm ẩn rủi ro đối với ổn định kinh tế vĩ mô. Trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP bình quân quốc tế chỉ quanh mức 100% và khu vực EU khoảng 93%, Việt Nam đã vượt xa các ngưỡng này.
Bên cạnh đó, lạm phát từ đầu năm 2024 cao hơn nhiều quốc gia trong khu vực đã thu hẹp dư địa điều hành chính sách, trong khi hệ số an toàn vốn (CAR) của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn ở mức thấp so với mặt bằng khu vực, làm gia tăng rủi ro khi tín dụng tiếp tục mở rộng nhanh.

Chuyển biến tư duy phát triển và triển vọng 2026

Đánh giá về bối cảnh chung trên báo Chính phủ, TS. Trần Đình Thiên nhận định năm 2025 là một năm đặc biệt, hội tụ gần như đầy đủ những yếu tố của cả một giai đoạn phát triển, từ khó khăn, thách thức đến nội lực và quyết tâm cải cách, nỗ lực xoay chuyển tình thế. Theo ông, điểm nổi bật nhất của năm 2025 là sự chuyển biến trong tư duy và cách tiếp cận phát triển.
Lần đầu tiên, Việt Nam khẳng định một cách rõ ràng rằng kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất, là trụ cột cốt yếu của mô hình tăng trưởng. Cùng với đó là sự thay đổi trong mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, từ cách tiếp cận mang tính lệ thuộc sang tư duy đồng kiến tạo phát triển. Việc triển khai đồng loạt hàng trăm dự án khởi công, khánh thành trong năm qua không chỉ nhằm thúc đẩy tăng trưởng trước mắt, mà còn là phép thử về năng lực tổ chức, điều hành và khả năng huy động nguồn lực của nền kinh tế.
TS. Trần Đình Thiên cũng đánh giá cao cách Việt Nam ứng phó với các tình huống bất thường, tiêu biểu là vấn đề thuế đối ứng, khi thương mại toàn cầu bị xáo trộn mạnh.
“Thuế đối ứng khiến thương mại toàn cầu xáo trộn mạnh, nhưng cách ứng xử của Việt Nam nhìn chung là bình tĩnh, linh hoạt và từng bước giành lại thế chủ động”, ông dẫn chứng thành tích xuất nhập khẩu đạt được trong năm qua có một phần rất quan trọng từ năng lực ứng phó này, thể hiện rõ bản lĩnh và khả năng điều hành của Việt Nam.
Thành phố Hồ Chí Minh - Sputnik Việt Nam, 1920, 01.01.2026
Tổng kết 2025 và Dự báo 2026
Việt Nam làm được điều phi thường trong năm 2025
Từ góc độ quốc tế, cũng trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ, ông Okabe Mitsutoshi, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP.HCM cho rằng Việt Nam được kỳ vọng tăng trưởng ổn định trong năm 2026, song vẫn đối mặt với rủi ro từ căng thẳng thương mại và nguy cơ leo thang thuế quan. Mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên của Việt Nam là đầy thách thức, nhưng phản ánh quyết tâm của Chính phủ trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
“Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần tạo được vòng tuần hoàn tích cực giữa duy trì đà xuất khẩu mạnh, đa dạng hóa thị trường, triển khai thông suốt thủ tục đầu tư tư nhân, mở rộng đầu tư công và kiểm soát lạm phát hiệu quả, trong đó động lực tăng trưởng cần đến từ sức bật của doanh nghiệp tư nhân, như tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW”, ông Okabe Mitsutoshi khuyến nghị.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала