Điện sạch và những cái bắt tay làm nóng lưới điện ASEAN

© Ảnh : TTXVN - Trương Trung Tuấn PhiCác máy điện gió trên địa bàn tỉnh Cà Mau vận hành với tổng công suất 1.610,2MW/năm
Các máy điện gió trên địa bàn tỉnh Cà Mau vận hành với tổng công suất 1.610,2MW/năm - Sputnik Việt Nam, 1920, 23.02.2026
Đăng ký
Trong bối cảnh các nền kinh tế Đông Nam Á đồng loạt tìm cách giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, hợp tác năng lượng đang bước sang một giai đoạn mới, nơi dòng điện được kỳ vọng sẽ lưu chuyển vượt qua biên giới quốc gia.
Tại Diễn đàn về lộ trình chuyển đổi năng lượng và phát triển bền vững của Malaysia diễn ra ngày 5/2 ở Kuala Lumpur, giới chức và chuyên gia đã công bố những bước tiến quan trọng trong việc thiết lập các tuyến kết nối điện xuyên biên giới.
Một trong những sáng kiến nổi bật là dự án kết nối giữa Việt Nam, Malaysia và Singapore, do Petronas và Tập đoàn Điện lực Malaysia thúc đẩy. Dự án này dự kiến có thể đạt công suất tới 2.000 MW trong thập kỷ tới, trở thành một phần quan trọng của tham vọng xây dựng Lưới điện ASEAN.
Đông Nam Á đang bước vào giai đoạn nhu cầu năng lượng tăng nhanh chưa từng có. Với mục tiêu nâng cao mức sống, nhiều nền kinh tế ASEAN chuyển hướng sang các ngành giá trị cao như công nghệ số, trung tâm dữ liệu, những lĩnh vực tiêu thụ điện năng khổng lồ, tạo áp lực lớn lên hệ thống cung ứng.
Tuy nhiên, tốc độ phát triển nguồn tái tạo vẫn chưa theo kịp đà tăng nhu cầu. Khoảng trống này khiến khu vực tiếp tục phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu, đối mặt với biến động giá và yêu cầu cắt giảm phát thải ngày càng khắt khe.
Trong bối cảnh quy mô kinh tế ASEAN có thể đạt 10.000 tỷ USD vào năm 2040, ý tưởng hình thành lưới điện chung được xem như chìa khóa để khai mở và phân bổ hiệu quả nguồn năng lượng xanh.

Nhu cầu liên kết chuyển đổi xanh

Theo chuyên gia Ngô Đức Lâm, nguồn điện trong các nước ASEAN dễ biến động theo mùa. Thủy điện có thể suy giảm mạnh vào mùa khô, trong khi nhu cầu tiêu thụ không ngừng tăng. Một cơ chế lưới điện liên thông vì thế mở ra khả năng điều chuyển nguồn điện sạch từ nơi dư thừa sang nơi thiếu hụt, giúp hệ thống vận hành ổn định hơn.
Trang trại điện gió ngoài khơi. - Sputnik Việt Nam, 1920, 01.02.2026
Việt Nam đặt cược vào điện gió ngoài khơi
Khi vượt ra khỏi tư duy “điện trong biên giới quốc gia”, ASEAN mới có thể tận dụng hiệu quả tiềm năng tái tạo không đồng đều giữa các nước và tăng sức chống chịu của toàn hệ thống trước những cú sốc nguồn cung.

“Theo tôi, việc kết nối lưới điện xuyên quốc gia giữa các nước ASEAN là xu thế tất yếu trong bối cảnh các nước chuyển từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo. Khi hệ thống điện được liên thông, mỗi quốc gia sẽ có thêm nguồn cung dự phòng, qua đó nâng cao mức độ an toàn, ổn định và bảo đảm an ninh năng lượng. Nếu một nước xảy ra thiếu hụt hoặc sự cố cục bộ, có thể nhận hỗ trợ ngay từ các nước còn lại”, ông Ngô Đức Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công thương) nhận định khi trao đổi với Sputnik.

Malaysia đã đặt ra mục tiêu tham vọng đạt 70% công suất năng lượng tái tạo vào năm 2050 và tăng cường hiệu quả sử dụng năng lượng trong cả lĩnh vực công nghiệp lẫn dân dụng. Trong khi đó, Singapore, một trong những nền kinh tế năng động nhất ASEAN cũng công bố cam kết trung hòa carbon vào năm 2050.
Còn tại Việt Nam, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu năng lượng cũng được xác định rõ ràng trong Quy hoạch Điện VIII và các chiến lược quốc gia: tỷ trọng năng lượng tái tạo trong sản lượng điện phấn đấu đạt 31-39% vào năm 2030 và tăng lên khoảng 67,5-71,5% vào năm 2050 nhằm giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và đạt mục tiêu trung hòa carbon theo cam kết quốc tế.
Đồng thời, Quy hoạch Điện VIII thể hiện quyết tâm phát triển các nguồn điện tái tạo lớn như điện gió, điện mặt trời và lưu trữ năng lượng quy mô lớn để hỗ trợ quá trình này.

Việt Nam - điểm nối giữa Mekong và bán đảo

Từ thập niên 1990, ASEAN đã đưa ra tầm nhìn về Lưới điện ASEAN thống nhất. Dù hiện đã có hàng nghìn km đường dây liên kết, phần lớn mới dừng ở hợp tác song phương.
Các dự án mới, trong đó có kết nối giữa Việt Nam và Bán đảo Malaysia, được kỳ vọng tạo cú hích để tiến tới thị trường điện khu vực thực chất hơn, với mốc vận hành quy mô lớn có thể vào khoảng năm 2034, mở ra một bước ngoặt mới cho hoạt động trao đổi điện năng qua biên giới trong khu vực.
hủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Phiên họp lần thứ năm của Ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân - Sputnik Việt Nam, 1920, 12.02.2026
Việt Nam sắp báo cáo kết quả đàm phán điện hạt nhân với Nga
Để hiện thực hóa mốc thời gian này, các bên đang đẩy nhanh những nghiên cứu khả thi chi tiết. Trọng tâm là phương án kéo cáp ngầm dưới biển, song song với việc xem xét các tuyến truyền tải trên bộ đi qua Campuchia và Lào nhằm hòa nối vào mạng lưới điện chung của ASEAN.
Trong cấu trúc đang hình thành, Việt Nam sở hữu lợi thế địa lý đặc biệt. Ở phía Tây là Lào và Campuchia, nơi có tiềm năng thủy điện; ở phía Nam là Malaysia và Singapore, nơi có các trung tâm tiêu thụ năng lượng lớn.
Nhiều năm qua, Việt Nam đã có kinh nghiệm trao đổi điện với Lào. Việc mở rộng hợp tác xuống phía Nam vì vậy được coi là bước phát triển tiếp theo mang tính tự nhiên và có cơ sở.

“Về phương án kỹ thuật, dù là cáp ngầm dưới biển hay đường dây trên bộ, nếu thực hiện được đều mang lại lợi ích lớn. Tuy nhiên, cáp ngầm phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, luồng hàng hải và yêu cầu công nghệ rất cao. Dù vậy, việc trao đổi điện qua biên giới không phải là điều hoàn toàn mới. Việt Nam đã có kinh nghiệm hợp tác với Lào trong nhiều năm, vì vậy có cơ sở để mở rộng ra các đối tác khác như Malaysia hay Singapore”, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng cho hay.

Rào cản ở thể chế mỗi nước

Dù xu thế hợp tác đã rõ, việc xây dựng một thị trường điện chung cho ASEAN vẫn đối mặt nhiều khó khăn.
Theo ông Ngô Đức Lâm, truyền tải điện đi xa đòi hỏi nâng cấp lên các cấp điện áp cao hơn nhằm giảm tổn thất. Đồng thời, khu vực cần phát triển các hệ thống lưu trữ năng lượng quy mô công nghiệp để điều tiết khi nguồn tái tạo tăng mạnh.

“Thách thức lớn nhất hiện nay trước hết là công nghệ truyền tải: điện truyền đi khoảng cách xa sẽ gây tổn thất lớn, do đó cần đầu tư các cấp điện áp cao hơn, thậm chí siêu cao áp, để giảm hao hụt. Thứ hai là bài toán lưu trữ năng lượng ở quy mô công nghiệp. Khi năng lượng tái tạo phát dư thừa mà không có hệ thống tích trữ đủ mạnh, việc điều tiết sẽ rất khó khăn. Đây là lĩnh vực nhiều nước đang tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện”.

Đại sứ Việt Nam Trịnh Đức Hải và Giám đốc điều hành IEA Fatih Birol - Sputnik Việt Nam, 1920, 20.02.2026
Việt Nam chính thức trở thành quốc gia liên kết của Cơ quan Năng lượng Quốc tế
Đặc biệt, theo đánh giá của chuyên gia, nút thắt then chốt vẫn nằm ở khung thể chế. Thực tế, nhiều quốc gia có xu hướng đặt trọng tâm vào bảo vệ ngành công nghiệp trong nước và theo đuổi chiến lược năng lượng riêng, thay vì mở rộng hợp tác ở cấp độ khu vực.
“Nhưng khó nhất vẫn là cơ chế hợp tác giữa các quốc gia: từ giá mua bán điện, phương thức đầu tư, chia sẻ lợi ích cho tới tiêu chuẩn kỹ thuật, vận hành. Nếu chưa có một khung pháp lý đủ linh hoạt và thống nhất, việc triển khai sẽ mất nhiều thời gian”, ông Lâm nhấn mạnh.

Cơ hội của thập kỷ tới

Nói thêm với Sputnik, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công thương) cho rằng, ASEAN đang hội tụ những điều kiện thuận lợi để chuyển từ các dự án rời rạc sang một cấu trúc liên kết ở tầm khu vực. Từ góc nhìn đó, ông Ngô Đức Lâm đánh giá:
“Tuy vậy, tôi cho rằng hiện nay là thời điểm tương đối chín muồi để thúc đẩy liên kết lưới điện ASEAN. Nhu cầu đảm bảo an ninh năng lượng ngày càng cấp thiết, trong khi các nước đều đẩy mạnh phát triển năng lượng sạch. Những hợp tác song phương trước đây cũng đã mang lại kinh nghiệm thực tiễn, tạo nền tảng để mở rộng ra quy mô khu vực”.
Tấm năng lượng mặt trời và tuabin gió sản xuất ra điện - Sputnik Việt Nam, 1920, 19.11.2023
Một mình Việt Nam chiếm gần 70% sản lượng điện mặt trời, điện gió của ASEAN
Bất chấp những thách thức, chuyên gia tin rằng động lực chuyển đổi xanh cùng nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng đang tạo ra sức ép đủ lớn để thúc đẩy các chính phủ hành động.

“Quy mô công suất khoảng 2.000 MW và mục tiêu hoàn thành vào khoảng năm 2034, theo tôi đây là con số khả thi. Trong các quy hoạch phát triển điện lực, Việt Nam cũng đã tính đến những nguồn có quy mô tương tự, thậm chí lớn hơn. Nếu giải quyết được vấn đề công nghệ và cơ chế, tiến độ hoàn toàn có thể đạt được”, vị chuyên gia nhận định.

Nếu các kế hoạch thành hiện thực, Đông Nam Á có thể tiến gần hơn tới một hệ sinh thái năng lượng nơi các quốc gia vừa cạnh tranh, vừa phụ thuộc lẫn nhau và cùng chia sẻ lợi ích từ quá trình khử carbon.
Trong bức tranh ấy, vai trò trung tâm của Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục được củng cố.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала