Béo phì ở trẻ em Việt Nam: những con số báo động

© REUTERS Kyodo
Đăng ký
Trong chống, ngăn ngừa béo phì ở trẻ em xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố hàng đầu. Chìa khóa là không chỉ ăn đủ mà còn phải ăn đúng, cân đối giữa năng lượng và vi chất, đồng thời kết hợp vận động hợp lý, theo dõi thường xuyên thể trạng và sức khỏe của trẻ.
Theo thống kê của Việt Nam, trong 10-15 năm trở lại đây tỷ lệ thừa cân béo phì ở trẻ em Việt Nam tăng nhanh. Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020, tỷ lệ này ở trẻ dưới 5 tuổi tăng từ 5% lên 8%. Ở nhóm 5 đến 18 tuổi, con số tăng hơn gấp đôi, từ 7% lên 19%, đặc biệt, tập trung nhiều ở lứa tuổi học sinh trung học.
Những con số này đáng báo động về thể chất, tâm lý và chuyển hóa ở trẻ em. Bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng, chuyên gia về dinh dưỡng nhi khoa đã có vài chia sẻ liên quan tới tình trạng béo phì ở trẻ em Việt Nam hiện nay với Sputnik.
Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh Việt Nam tăng gấp đôi trong 10 năm từ 2010 tới 2020
Hiện nay, vấn đề thừa cân - béo phì ở trẻ em đang dần trở thành thách thức của cộng đồng, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của quốc gia, vì đây mối đe dọa lâu dài đến sức khỏe của nguồn nhân lực trẻ tại Việt Nam. Nói về thực trạng này ở Việt Nam hiện nay, bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng, chuyên gia dinh dưỡng nhi khoa cho biết: tỷ lệ thừa cân, béo phì ở học sinh Việt Nam tăng gấp đôi trong 10 năm từ 2010 tới 2020, từ 8,5% lên 19%, tại các đô thị lớn con số này là 26%, đang tiệm cận các nước phát triển. Tỷ lệ này ở trẻ dưới 5 tuổi tăng từ 5% lên 8% trong giai đoạn nói trên. Những con số này được đưa ra tại Hội thảo khoa học quốc tế về “Dinh dưỡng học đường năm 2025” ngày 14/8/2025.
Tỷ lệ trẻ béo phì ở Việt Nam cao hơn tỉ lệ trung bình của khu vực Đông Nam Á (17,3%). Cao hơn tỉ lệ tại các quốc gia có mức thu nhập thấp và trung bình của khu vực (13,4% tại Campuchia; 16,6% tại Lào; 14,1% tại Myanmar; 14,5% tại Philippines; 18,0% tại Indonesia).
Nếu không có các biện pháp và can thiệp hiệu quả, kịp thời, ước tính đến năm 2030 gần 2 triệu trẻ em Việt Nam trong độ tuổi 5 - 19 tuổi sẽ bị thừa cân, béo phì.
Tại hội thảo khoa học quốc tế về “Dinh dưỡng học đường năm 2025” ngày 14/8/2025, PGS.TS. Trần Thanh Dương, Viện trưởng Dinh dưỡng đã nói rằng “tốc độ này thậm chí còn nhanh hơn Thái Lan và đang tiệm cận các nước phát triển. Thừa cân béo phì chính là quả bom nổ chậm cho gánh nặng của các bệnh không lây nhiễm trong tương lai, bào mòn sức khỏe và năng suất lao động của quốc gia".
Chế độ dinh dưỡng không khoa học là nguyên nhân số 1
Đề cập tới những nguyên nhân dẫn tới tình trạng đáng báo động nói trên, bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh rằng những nguyên nhân gây béo phì ở trẻ em là thói quen ăn uống, tác động từ môi trường bên ngoài, các bệnh lý. Cụ thể như sau:
Chế độ dinh dưỡng không khoa học: nguy cơ béo phì ở trẻ tăng cao khi trẻ thường xuyên tiêu thụ các loại thực phẩm không lành mạnh, thức ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn, đồ uống có đường và chất béo như bánh kẹo, gà rán, xúc xích, kem…Theo khảo sát của Viện Dinh dưỡng, trẻ em Việt Nam tiêu thụ trung bình 30-40g đường mỗi ngày, vượt xa khuyến nghị của WHO (dưới 25g/ngày). Đồng thời, trẻ em đô thị dành trung bình 4-6 giờ mỗi ngày cho các hoạt động ít vận động như xem tivi, sử dụng máy tính và thiết bị điện tử.
Phụ huynh thiếu kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ: nhiều bậc cha mẹ có quan điểm trẻ càng mập càng tốt, càng khỏe mạnh nên cho trẻ ăn không kiểm soát. Không những thế, họ còn cho trẻ em ăn những thực phẩm không phù hợp với lứa tuổi.
Lười vận động: trong cuộc sống hiện đại, trẻ em dùng quá nhiều các thiết bị điện tử để giải trí như tivi, điện thoại, máy chơi game, ít hoạt động thể lực, ít hoặc thậm chí không thể dục thể thao.
Yếu tố di truyền: nguy cơ béo phì ở trẻ tăng 50% khi có bố hoặc mẹ bị béo phì và tăng 80% khi cả bố và mẹ đều béo phì.
Trẻ mắc các bệnh gây rối loạn ăn uống: hội chứng thèm ăn, hội chứng Pica…
Tâm lý không ổn định: tâm lý tự ti, tiêu cực, áp lực căng thẳng… khiến trẻ có xu hướng muốn được ăn nhiều hơn bình thường, nhất là đồ ngọt. Điều này khiến trẻ tăng cân nhanh chóng, béo phì.
Tác dụng phụ của một số loại thuốc: Prednisone, Lithium, Amitriptyline, Paroxetine, Gabapentin, Propranolol…
Béo phì ở trẻ em làm tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm
Béo phì ở trẻ em làm tăng nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như tiểu đường type 2, rối loạn lipid máu và cao huyết áp ngay từ tuổi thanh thiếu niên. Nghiên cứu của Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy đã có trường hợp trẻ em Việt Nam được chẩn đoán mắc tiểu đường type 2 từ 9-10 tuổi, điều hiếm thấy cách đây một thập kỷ.
Hiện nay, nhiều trẻ thừa cân, béo phì trông cao lớn ở giai đoạn đầu nhưng dậy thì sớm nhưng lại dừng phát triển chiều cao sớm, cuối cùng có chiều cao khiêm tốn. PGS Phạm Ngọc Khái, Chủ tịch Hội Dinh dưỡng Việt Nam, cho biết hiện khoảng 20% trẻ em Việt Nam có chiều cao thấp hơn chuẩn, phản ánh tình trạng phát triển chưa tối ưu còn phổ biến. Vì vậy, cần một chiến lược liên ngành, kết hợp dinh dưỡng, y tế và các yếu tố xã hội.
Bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng cũng lưu ý rằng, theo ước tính của các chuyên gia, ngoài tác động sức khỏe, tâm lý, chi phí điều trị các bệnh liên quan đến béo phì có thể tiêu tốn khoảng 5-7% ngân sách y tế quốc gia trong tương lai.
Các biện pháp chống, ngăn ngừa béo phì ở trẻ nhỏ, thiếu niên
Đề cập tới các biện pháp chống, ngăn ngừa béo phì ở trẻ nhỏ, thiếu niên, bác sỹ Nguyễn Quốc Hùng nhấn mạnh rằng xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố hàng đầu. Chìa khóa là không chỉ ăn đủ mà còn phải ăn đúng, cân đối giữa năng lượng và vi chất, đồng thời kết hợp vận động hợp lý.
Vận động giúp trẻ phát triển chiều cao, duy trì cân nặng phù hợp với lứa tuổi, giảm thiểu tình trạng thừa cân, béo phì. Hoạt động thể lực cũng giúp trẻ ăn ngon, ngủ sâu và cải thiện các vấn đề tinh thần như căng thẳng, trầm cảm, lo âu. Bên cạnh đó, vận động còn giúp trẻ tăng cường trí nhớ và khả năng tập trung. Trẻ cũng có cơ hội kết bạn, vui chơi và làm việc cùng đồng đội khi tham gia các hoạt động thể lực tập thể. Bố mẹ cũng nên khuyến khích và hướng dẫn trẻ làm việc nhà ngay từ nhỏ, đây là biện pháp hữu ích, tạo cho trẻ cơ hội vận động lại vừa biết giúp đỡ bố mẹ. Và hạn chế tối đa thời gian xem tivi, điện thoại và chơi điện tử.
Bố mẹ cũng nên thường xuyên theo dõi chiều cao và cân nặng của trẻ. Từ đó, có thể điều chỉnh chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt và vận động thể lực phù hợp với trẻ.
Xét nghiệm gene giúp xác định nguy cơ béo phì, giúp bố mẹ biết được mối nguy hại tiềm ẩn với sức khỏe của trẻ trong tương lai. Nếu kết quả xét nghiệm cho thấy trẻ có gene béo phì bẩm sinh thì cần tạo dựng và quản lý nghiêm ngặt chế độ ăn của trẻ cũng như tích cực khuyến khích trẻ tham gia vận động thể lực.
Về khía cạnh trường học, Thứ trưởng Y tế Nguyễn Tri Thức đã nói, “cần luật hóa chính sách dinh dưỡng học đường để triển khai đồng bộ các chương trình như bữa ăn học đường quốc gia, giáo dục dinh dưỡng, kiểm soát béo phì học đường... để phát triển tầm vóc và thể lực cho thế hệ trẻ". Ông Nguyễn Tri Thức cho rằng cần thiết phải có tư duy mới và những giải pháp đột phá, tạo ra một "cú hích chiến lược" tại "mặt trận" trường học vì đây là giai đoạn vàng cuối cùng để can thiệp toàn diện về dinh dưỡng và vận động, tạo nền tảng sức khỏe trọn đời cho thế hệ trẻ.




