https://kevesko.vn/20260704/cac-chuyen-gia-lien-xo-va-su-ra-doi-cua-nganh-nang-luong-viet-nam-43200717.html
Các chuyên gia Liên Xô và sự ra đời của ngành năng lượng Việt Nam
Các chuyên gia Liên Xô và sự ra đời của ngành năng lượng Việt Nam
Sputnik Việt Nam
Sputnik tiếp tục giới thiệu công việc của các chuyên gia Liên Xô tại Việt Nam. Từ sau kháng chiến chống Pháp đến khi Liên Xô tan rã năm 1991, Liên Xô đã hỗ trợ... 04.07.2026, Sputnik Việt Nam
2026-07-04T10:57+0700
2026-07-04T10:57+0700
2026-07-04T10:57+0700
điện
thủy điện
liên xô
việt nam
nga
hợp tác nga-việt
chuyên gia
tác giả
quan điểm-ý kiến
hồ chí minh
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/07/02/43200545_0:163:3063:1886_1920x0_80_0_0_3d74ab4aa892b0cea7c085e945599767.jpg
Ngay từ năm 1960, Liên Xô đã cam kết xây dựng tám nhà máy điện nhỏ với tổng công suất 200.000 kilowatt tại Vinh, Lào Cai và sáu thị trấn khác ở Việt Nam. Theo tiêu chuẩn ngày nay, đây là công suất rất nhỏ, nhưng vào đầu những năm 1960, 200.000 kilowatt này đã có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.Nhà máy điện Bàn ThạchNhà máy thủy điện đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám là nhà máy Bàn Thạch. Nó được xây dựng không phải trên sông như tất cả các nhà máy sau này, mà trên trục kênh chính của hệ thống thủy lợi Nông Giang.Tất cả các mục tiêu này đều đã đạt được. Ví dụ, năng lượng từ công trình này đã trực tiếp cấp điện cho trạm bơm Yên Định, đảm bảo nước tưới cho 20.000 ha đất, giúp nông dân chuyển đổi thành công từ phương thức canh tác một vụ sang hai vụ lúa mỗi năm. Nguồn điện từ Bàn Thạch được truyền tải đến thành phố Thanh Hóa, phục vụ xưởng đúc sắt ở Hàm Rồng, các nhà máy xay xát gạo ở Hàm Rồng và Yên Tây. Nó cũng cung cấp điện cho xưởng cưa gỗ, một phần sản lượng của xưởng này—các tấm ván lát sàn—được xuất khẩu sang Liên Xô. Xưởng cưa gỗ này cũng được xây dựng với sự hỗ trợ của Liên Xô vào năm 1956, được trang bị thiết bị của Liên Xô, và sáu chuyên gia Nga đã đào tạo công nhân Việt Nam vận hành nó. Nhà máy thủy điện Bàn Thạch cũng là trường học thực tế tuyệt vời. Hàng trăm kỹ sư và công nhân Việt Nam đã được đào tạo tại đây, tạo tiền nhân lực cốt lõi cho ngành thủy điện quốc gia. Nhiều người sau đó trở thành kỹ sư và quản đốc, và được trao tặng bằng khen và giải thưởng vì đã giải quyết thành công các vấn đề xây dựng thủy điện tại các công trình khác.Nhà máy thủy điện Bàn Thạch được đưa vào vận hành năm 1961. Nơi đây đã trở thành một trong những cơ sở hạ tầng và công nghiệp đầu tiên của Việt Nam bị phá hủy bởi không quân Mỹ.Nhà máy thuỷ điện Thác BàCông tác chuẩn bị xây dựng Nhà máy Thủy điện Thác Bà bắt đầu vào năm 1962. Nhà máy được thiết kế ban đầu với công suất lắp đặt là 108 MW. Các công trình chính bắt đầu được xây dựng vào tháng 8 năm 1964. Tháng 7 năm 1966, không quân Mỹ tiến hành các cuộc oanh tạc dữ dội, tàn phá công trường. Các chuyên gia Liên Xô đã hỗ trợ công nhân xây dựng và kỹ sư điện lực Việt Nam trong việc tái thiết các công trình bị tàn phá. Hơn hai trăm nhà máy Liên Xô đã sản xuất thiết bị cho nhà máy, bao gồm máy phát điện và tua bin, máy biến áp và máy nén khí. Tổ máy đầu tiên của Nhà máy Thủy điện Thác Bà chính thức khánh thành và hòa lưới điện quốc gia vào ngày 05/10/1971. Tiếp nối thành công đó, tổ máy số 2 được vận hành vào ngày 10/03/1972 và tổ máy số 3 hoàn thành phát điện vào ngày 19/05/1972. Đáng tiếc, hoạt động của các tổ máy chỉ kéo dài trong thời gian ngắn: vào tháng 6 năm 1972, Nhà máy thủy điện Thác Bà đã phải hứng chịu các trận oanh tạc hủy diệt từ không quân Mỹ nhằm làm tê liệt "trái tim điện" của miền Bắc. Mãi đến tháng 4 năm 1975, cả ba tổ máy mới hoạt động trở lại, và trong quá trình khôi phục, các chuyên gia Liên Xô hỗ trợ nâng công suất Nhà máy Thác Bà lên 120 MW.Ông Đại Ngọc Giang, cựu lãnh đạo cấp cao gắn bó nhiều thập kỷ với Nhà máy thủy điện Thác Bà, từng đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Nhà máy, nhận xét rằng, "Thác Bà sẽ mãi mãi là niềm tự hào và là "cái nôi" của ngành thủy điện Việt Nam. Xét cho cùng, các giám sát ca, những nhân sự chủ chốt trong việc xây dựng đập thủy điện Hòa Bình, đều được đào tạo tại Thác Bà."Nhà máy Nhiệt điện Uông BíCác dự án năng lượng của Liên Xô tại Việt Nam không chỉ giới hạn ở các nhà máy thủy điện. Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí là nhà máy nhiệt điện than lớn và hiện đại đầu tiên của Việt Nam. Việc xây dựng và lắp đặt thiết bị do Liên Xô cung cấp cho Việt Nam bắt đầu vào tháng 5 năm 1961. Nhà máy chính thức khánh thành đợt I vào năm 1964. Và dòng điện đầu tiên từ Nhà máy điện Uông Bí đã chính thức phát sáng và hòa vào lưới điện miền Bắc vào tháng 11 năm 1963.Ngày 2 tháng 2 năm 1965 (đúng ngày Mùng 1 Tết Ất Tỵ), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm, chúc Tết cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Uông Bí và các chuyên gia Liên Xô đang hỗ trợ xây dựng địa phương.Và mặc dù nhà máy liên tục bị Mỹ ném bom, đặc biệt là vào tháng 12 năm 1965, nhưng đóng góp của nó vào lưới điện quốc gia vẫn không ngừng tăng lên. Trong giai đoạn đầu, sản lượng của nhà máy đạt 146 triệu kWh vào năm 1965 và 178 triệu kWh vào năm 1971. Cuối năm 1976, công suất của nhà máy được tăng từ 110 MW ban đầu lên 153 MW. Trong thời kỳ hậu Xô Viết, nhờ hai tổ máy phát điện do Nga thiết kế được cung cấp cho Uông Bí, công suất của nhà máy đạt 630 MW. Nhà máy đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng hai danh hiệu cao quý để ghi nhận những đóng góp to lớn trong sản xuất và bảo vệ Tổ quốc: danh hiệu Anh hùng Lao động được phong tặng năm 1973 và danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân được phong tặng năm 1998. Nhiều đơn vị và công nhân của nhà máy, bao gồm một số chuyên gia Liên Xô, đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng các huân, huy chương cao quý.
https://kevesko.vn/20260606/quoc-tich-lien-xo-noi-lam-viec-viet-nam-42834433.html
liên xô
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Alexei Syunnerberg
https://cdn.img.kevesko.vn/img/02/92/029272_20:0:979:959_100x100_80_0_0_a175c9e9e1ed2192c86b2b64af444e6a.jpg
Alexei Syunnerberg
https://cdn.img.kevesko.vn/img/02/92/029272_20:0:979:959_100x100_80_0_0_a175c9e9e1ed2192c86b2b64af444e6a.jpg
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/07/02/43200545_167:0:2898:2048_1920x0_80_0_0_e38ef1eda7b6aa7627b7b6961aa62fb1.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
Alexei Syunnerberg
https://cdn.img.kevesko.vn/img/02/92/029272_20:0:979:959_100x100_80_0_0_a175c9e9e1ed2192c86b2b64af444e6a.jpg
điện, thủy điện, liên xô, việt nam, nga, hợp tác nga-việt, chuyên gia, tác giả, quan điểm-ý kiến, hồ chí minh, hoa kỳ, nhà máy điện, năng lượng
điện, thủy điện, liên xô, việt nam, nga, hợp tác nga-việt, chuyên gia, tác giả, quan điểm-ý kiến, hồ chí minh, hoa kỳ, nhà máy điện, năng lượng
Các chuyên gia Liên Xô và sự ra đời của ngành năng lượng Việt Nam
Sputnik tiếp tục giới thiệu công việc của các chuyên gia Liên Xô tại Việt Nam. Từ sau kháng chiến chống Pháp đến khi Liên Xô tan rã năm 1991, Liên Xô đã hỗ trợ Việt Nam khôi phục và xây dựng hơn 300 công trình trong nhiều lĩnh vực. Ngành điện lực Việt Nam đã đi lên từ con số không.
Ngay từ năm 1960, Liên Xô đã cam kết xây dựng tám nhà máy điện nhỏ với tổng công suất 200.000 kilowatt tại Vinh, Lào Cai và sáu thị trấn khác ở Việt Nam. Theo tiêu chuẩn ngày nay, đây là công suất rất nhỏ, nhưng vào đầu những năm 1960, 200.000 kilowatt này đã có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam.
Nhà máy thủy điện đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám là nhà máy Bàn Thạch. Nó được xây dựng không phải trên sông như tất cả các nhà máy sau này, mà trên trục kênh chính của hệ thống thủy lợi Nông Giang.
Vào cuối năm 1959, đồng chí Dương Quốc Chính khi đó là Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Việt Nam, đã nhận xét: “Đất nước rất cần nhà máy này để cung cấp điện cho các doanh nghiệp nông nghiệp và công nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa, để nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng nhà máy thủy điện của Liên Xô, và để đào tạo các kỹ sư thủy điện với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô”.
Tất cả các mục tiêu này đều đã đạt được. Ví dụ, năng lượng từ công trình này đã trực tiếp cấp điện cho trạm bơm Yên Định, đảm bảo nước tưới cho 20.000 ha đất, giúp nông dân chuyển đổi thành công từ phương thức canh tác một vụ sang hai vụ lúa mỗi năm. Nguồn điện từ Bàn Thạch được truyền tải đến thành phố Thanh Hóa, phục vụ xưởng đúc sắt ở Hàm Rồng, các nhà máy xay xát gạo ở Hàm Rồng và Yên Tây. Nó cũng cung cấp điện cho xưởng cưa gỗ, một phần sản lượng của xưởng này—các tấm ván lát sàn—được xuất khẩu sang
Liên Xô. Xưởng cưa gỗ này cũng được xây dựng với sự hỗ trợ của Liên Xô vào năm 1956, được trang bị thiết bị của Liên Xô, và sáu chuyên gia Nga đã đào tạo công nhân Việt Nam vận hành nó. Nhà máy thủy điện Bàn Thạch cũng là trường học thực tế tuyệt vời. Hàng trăm kỹ sư và công nhân Việt Nam đã được đào tạo tại đây, tạo tiền nhân lực cốt lõi cho ngành thủy điện quốc gia. Nhiều người sau đó trở thành kỹ sư và quản đốc, và được trao tặng bằng khen và giải thưởng vì đã giải quyết thành công các vấn đề xây dựng thủy điện tại các công trình khác.
Nhà máy thủy điện Bàn Thạch được đưa vào vận hành năm 1961. Nơi đây đã trở thành một trong những cơ sở hạ tầng và công nghiệp đầu tiên của Việt Nam bị phá hủy bởi không quân Mỹ.
"Nhà máy bị phá hủy", - đồng chí Dương Quốc Chính viết thư đầy cay đắng gửi về Matxcơva vào thời điểm đó, - nhưng tình hữu nghị giữa hai nước chúng ta mãi trường tồn. Dựa vào kinh nghiệm và sự giúp đỡ của các bạn, chúng tôi chắc chắn sẽ chiến thắng và xây dựng được những nhà máy điện mới."
Nhà máy thuỷ điện Thác Bà
Công tác chuẩn bị xây dựng
Nhà máy Thủy điện Thác Bà bắt đầu vào năm 1962. Nhà máy được thiết kế ban đầu với công suất lắp đặt là 108 MW. Các công trình chính bắt đầu được xây dựng vào tháng 8 năm 1964. Tháng 7 năm 1966, không quân Mỹ tiến hành các cuộc oanh tạc dữ dội, tàn phá công trường. Các chuyên gia Liên Xô đã hỗ trợ công nhân xây dựng và kỹ sư điện lực Việt Nam trong việc tái thiết các công trình bị tàn phá. Hơn hai trăm nhà máy Liên Xô đã sản xuất thiết bị cho nhà máy, bao gồm máy phát điện và tua bin, máy biến áp và máy nén khí. Tổ máy đầu tiên của Nhà máy Thủy điện Thác Bà chính thức khánh thành và hòa lưới điện quốc gia vào ngày 05/10/1971. Tiếp nối thành công đó, tổ máy số 2 được vận hành vào ngày 10/03/1972 và tổ máy số 3 hoàn thành phát điện vào ngày 19/05/1972. Đáng tiếc, hoạt động của các tổ máy chỉ kéo dài trong thời gian ngắn: vào tháng 6 năm 1972, Nhà máy thủy điện Thác Bà đã phải hứng chịu các trận oanh tạc hủy diệt từ không quân Mỹ nhằm làm tê liệt "trái tim điện" của miền Bắc. Mãi đến tháng 4 năm 1975, cả ba tổ máy mới hoạt động trở lại, và trong quá trình khôi phục, các chuyên gia Liên Xô hỗ trợ nâng công suất Nhà máy Thác Bà lên 120 MW.
Ông Đại Ngọc Giang, cựu lãnh đạo cấp cao gắn bó nhiều thập kỷ với Nhà máy thủy điện Thác Bà, từng đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Nhà máy, nhận xét rằng, "Thác Bà sẽ mãi mãi là niềm tự hào và là "cái nôi" của ngành thủy điện Việt Nam. Xét cho cùng, các giám sát ca, những nhân sự chủ chốt trong việc xây dựng đập thủy điện Hòa Bình, đều được đào tạo tại Thác Bà."
Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí
Các dự án năng lượng của Liên Xô tại Việt Nam không chỉ giới hạn ở các nhà máy thủy điện. Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí là nhà máy nhiệt điện than lớn và hiện đại đầu tiên của Việt Nam. Việc xây dựng và lắp đặt thiết bị do Liên Xô cung cấp cho Việt Nam bắt đầu vào tháng 5 năm 1961. Nhà máy chính thức khánh thành đợt I vào năm 1964. Và dòng điện đầu tiên từ Nhà máy điện Uông Bí đã chính thức phát sáng và hòa vào lưới điện miền Bắc vào tháng 11 năm 1963.
Ngày 2 tháng 2 năm 1965 (đúng ngày Mùng 1 Tết Ất Tỵ), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm, chúc Tết cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Uông Bí và các chuyên gia Liên Xô đang hỗ trợ xây dựng địa phương.
Chủ tịch nói: “Hiện nay, Nhà máy điện Uông Bí và mỏ Vàng Danh đều là những xí nghiệp vào loại to và hiện đại nhất của nước ta. Than và điện rất cần cho công nghiệp và nông nghiệp. Các cô, các chú hãy ra sức làm cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ”.
Và mặc dù nhà máy liên tục bị Mỹ ném bom, đặc biệt là vào tháng 12 năm 1965, nhưng đóng góp của nó vào lưới điện quốc gia vẫn không ngừng tăng lên. Trong giai đoạn đầu, sản lượng của nhà máy đạt 146 triệu kWh vào năm 1965 và 178 triệu kWh vào năm 1971. Cuối năm 1976, công suất của nhà máy được tăng từ 110 MW ban đầu lên 153 MW. Trong thời kỳ hậu
Xô Viết, nhờ hai tổ máy phát điện do Nga thiết kế được cung cấp cho Uông Bí, công suất của nhà máy đạt 630 MW. Nhà máy đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng hai danh hiệu cao quý để ghi nhận những đóng góp to lớn trong sản xuất và bảo vệ Tổ quốc: danh hiệu Anh hùng Lao động được phong tặng năm 1973 và danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân được phong tặng năm 1998. Nhiều đơn vị và công nhân của nhà máy, bao gồm một số chuyên gia Liên Xô, đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng các huân, huy chương cao quý.