https://kevesko.vn/20260822/quy-mo-gdp-viet-nam-vuot-500-ty-usd-tang-hon-70-lan-dung-35-the-gioi-43823011.html
Quy mô GDP Việt Nam vượt 500 tỷ USD, tăng hơn 70 lần, đứng 35 thế giới
Quy mô GDP Việt Nam vượt 500 tỷ USD, tăng hơn 70 lần, đứng 35 thế giới
Sputnik Việt Nam
Sau 40 năm Đổi mới, quy mô GDP Việt Nam tăng từ 6,7 tỷ USD lên hơn 500 tỷ USD, đưa đất nước từ nhóm thu nhập thấp lên thu nhập trung bình cao. 22.08.2026, Sputnik Việt Nam
2026-08-22T18:36+0700
2026-08-22T18:36+0700
2026-08-22T18:40+0700
việt nam
gdp
kinh tế
usd
đổi mới
nhân dân
thành phố hồ chí minh
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/07/0b/43292591_0:17:1001:580_1920x0_80_0_0_bc43b92dae9eb14174204a617758760d.jpg
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam vươn lên thứ 35 thế giớiTại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”, GS.TS Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng phát triển kinh tế cần được nhìn nhận là một quá trình biến đổi toàn diện. Trong đó, kinh tế là đòn bẩy, còn nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi của người dân mới là mục tiêu cuối cùng. Cốt lõi của quá trình này nằm ở thể chế, chính sách và cách thức phân phối thành quả phát triển.Nhìn lại 40 năm Đổi mới, Việt Nam đạt nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế và xã hội. GDP tăng bình quân khoảng 6,4% mỗi năm, cao hơn đáng kể tốc độ tăng trưởng chung của kinh tế thế giới. Năm 1990, GDP Việt Nam chỉ khoảng 6,7 tỷ USD, đứng thứ 85 thế giới. Sau 40 năm, quy mô nền kinh tế đã vượt 500 tỷ USD, tăng hơn 70 lần và vươn lên khoảng vị trí thứ 35 thế giới.Thu nhập bình quân đầu người cũng có bước tiến dài, từ khoảng 99 USD/người/năm vào năm 1990. Đến năm 2009, Việt Nam thoát khỏi nhóm quốc gia thu nhập thấp và bước vào nhóm thu nhập trung bình thấp. Năm 2025, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 4.970 USD, đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao.Theo GS.TS Ngô Thắng Lợi, thành quả phát triển còn thể hiện ở chất lượng cuộc sống. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng từ 0,499 trong giai đoạn đầu Đổi mới lên 0,766 vào năm 2025, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có HDI cao. Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực vẫn tồn tại các điểm nghẽn. Tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại, trong khi mô hình phát triển còn phụ thuộc đáng kể vào vốn đầu tư, khu vực đầu tư nước ngoài và các yếu tố đầu vào truyền thống.GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đi từ điểm xuất phát thấp để trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, để bước lên nhóm thu nhập cao vào năm 2045, bài toán quan trọng phải giải quyết là năng suất.Theo ông, dư địa tăng trưởng từ chuyển dịch cơ cấu đang thu hẹp. Việc chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo, từ nông thôn ra thành thị từng tạo ra động lực đáng kể, nhưng không còn đem lại mức tăng trưởng mạnh như trước. Vì vậy, nền kinh tế phải dựa nhiều hơn vào chất lượng lao động, công nghệ và đổi mới sáng tạo.Một điểm nghẽn khác là giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế. Xuất khẩu tăng nhanh nhưng phần giá trị Việt Nam tạo ra trong chuỗi giá trị toàn cầu chưa tương xứng. Khu vực đầu tư nước ngoài vẫn đóng vai trò lớn trong các ngành xuất khẩu công nghệ cao, trong khi mức độ lan tỏa công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.Nghiên cứu của nhóm chuyên gia Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng hiện tại, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu thu nhập cao. Ngược lại, nếu cải cách mạnh mẽ và xử lý đúng các điểm nghẽn, Việt Nam có khả năng trở thành quốc gia thu nhập cao vào khoảng năm 2045-2047.Theo đó, tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) cần được cải thiện mạnh, từ khoảng 0,2% hiện nay lên bình quân khoảng 2% mỗi năm. Trọng tâm là đầu tư cho công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng nội lực của doanh nghiệp Việt Nam.GS.TS Nguyễn Trọng Hoài đề xuất chuyển từ mô hình “1i”, chủ yếu dựa vào Investment (đầu tư), sang mô hình “3i” gồm Investment, Infusion và Innovation, tương ứng với đầu tư, lan tỏa công nghệ và đổi mới sáng tạo.Doanh nghiệp Việt phải tạo ra giá trị do mình làm chủCùng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Trưởng khoa Kế hoạch phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng mô hình tăng trưởng phải chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.Theo ông Sơn, Việt Nam cần tạo ra những giá trị đặc thù do chính doanh nghiệp Việt Nam làm chủ thay vì chủ yếu tham gia khâu gia công. Để hình thành động lực mới, cần nâng chất lượng thể chế, xây dựng năng lực quản trị hiệu quả và tạo cơ chế kết nối chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và khu vực công nghệ.Ông đề xuất 7 yếu tố cho mô hình phát triển mới, gồm định hướng quốc gia và năng lực trung tâm; tự chủ, tích hợp và liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp và công nghệ; chính sách công nghiệp có trọng tâm; phát triển nguồn nhân lực và năng lực mới; hạ tầng, tài chính phát triển và nền tảng số; mở cửa có chiến lược gắn với hội nhập toàn cầu; quản trị dựa trên bằng chứng và đồng thuận xã hội.Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, cho rằng thành tựu sau 40 năm khẳng định tính đúng đắn của đường lối Đổi mới, song việc nhìn lại chặng đường này quan trọng hơn là để nhận diện giới hạn của mô hình hiện tại, những điểm nghẽn cần tháo gỡ và các động lực mới cần kiến tạo.Theo ông Minh, bối cảnh hiện nay đòi hỏi Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động sang năng suất, tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; từ tham gia sang nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu; từ tiếp nhận sang làm chủ, sáng tạo công nghệ; từ lợi thế chi phí sang lợi thế năng suất và năng lực cạnh tranh.Trong đó, cần xác định rõ vai trò của các khu vực kinh tế, phát huy kinh tế nhà nước ở những lĩnh vực then chốt, đưa kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng và tăng khả năng liên kết, lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp trong nước. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số và kinh tế xanh cần trở thành những động lực tăng trưởng mới, trong đó con người, tri thức và năng lực sáng tạo giữ vai trò quyết định.Ông Minh cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, đột phá thể chế để khơi thông nguồn lực, thông qua cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm và tăng cường liên kết vùng.Mục tiêu cuối cùng của phát triển không chỉ là GDP cao hơn mà là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và sức mạnh tổng hợp của quốc gia trên nền tảng tự cường. Mô hình mới vì vậy phải giải quyết hài hòa giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng, hiệu quả kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, hội nhập quốc tế với nâng cao năng lực tự chủ.Mục tiêu năm 2045 không chỉ đặt ra yêu cầu tăng trưởng nhanh hơn mà còn đòi hỏi hình thành một năng lực phát triển mới với năng suất cao hơn, công nghệ hiện đại hơn, nguồn nhân lực chất lượng cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn và thể chế đủ sức khơi thông, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước.
https://kevesko.vn/20260822/viet-nam-khong-con-la-ca-lon-trong-ao-nho-hang-ty-usd-sap-do-ve-43822237.html
https://kevesko.vn/20260822/viet-nam-bi-tham-hut-gan-22-ty-usd-van-con-co-hoi-lat-nguoc-the-co-43821432.html
thành phố hồ chí minh
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/07/0b/43292591_102:0:897:596_1920x0_80_0_0_79ecf019fd2015d92b85ad640672c223.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, gdp, kinh tế, usd, đổi mới, nhân dân, thành phố hồ chí minh
việt nam, gdp, kinh tế, usd, đổi mới, nhân dân, thành phố hồ chí minh
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam vươn lên thứ 35 thế giới
Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới”, GS.TS Ngô Thắng Lợi, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng phát triển kinh tế cần được nhìn nhận là một quá trình biến đổi toàn diện. Trong đó, kinh tế là đòn bẩy, còn nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi của người dân mới là mục tiêu cuối cùng. Cốt lõi của quá trình này nằm ở thể chế, chính sách và cách thức phân phối thành quả phát triển.
Nhìn lại 40 năm Đổi mới, Việt Nam đạt nhiều thành tựu đáng kể về kinh tế và xã hội. GDP tăng bình quân khoảng 6,4% mỗi năm, cao hơn đáng kể tốc độ tăng trưởng chung của kinh tế thế giới. Năm 1990, GDP Việt Nam chỉ khoảng 6,7 tỷ USD, đứng thứ 85 thế giới. Sau 40 năm, quy mô nền kinh tế đã vượt 500 tỷ USD, tăng hơn 70 lần và vươn lên khoảng vị trí thứ 35 thế giới.
Thu nhập bình quân đầu người cũng có bước tiến dài, từ khoảng 99 USD/người/năm vào năm 1990. Đến năm 2009, Việt Nam thoát khỏi nhóm quốc gia thu nhập thấp và bước vào nhóm thu nhập trung bình thấp. Năm 2025, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 4.970 USD, đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao.
Theo GS.TS Ngô Thắng Lợi, thành quả phát triển còn thể hiện ở chất lượng cuộc sống. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng từ 0,499 trong giai đoạn đầu Đổi mới lên 0,766 vào năm 2025, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có HDI cao. Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực vẫn tồn tại các điểm nghẽn. Tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại, trong khi mô hình phát triển còn phụ thuộc đáng kể vào vốn đầu tư, khu vực đầu tư nước ngoài và các yếu tố đầu vào truyền thống.
GS.TS Nguyễn Trọng Hoài, giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đi từ điểm xuất phát thấp để trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, để bước lên nhóm thu nhập cao vào năm 2045, bài toán quan trọng phải giải quyết là năng suất.
Theo ông, dư địa tăng trưởng từ chuyển dịch cơ cấu đang thu hẹp. Việc chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp chế tạo, từ nông thôn ra thành thị từng tạo ra động lực đáng kể, nhưng không còn đem lại mức tăng trưởng mạnh như trước. Vì vậy, nền kinh tế phải dựa nhiều hơn vào chất lượng lao động, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Một điểm nghẽn khác là giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế. Xuất khẩu tăng nhanh nhưng phần giá trị Việt Nam tạo ra trong chuỗi giá trị toàn cầu chưa tương xứng. Khu vực đầu tư nước ngoài vẫn đóng vai trò lớn trong các ngành xuất khẩu công nghệ cao, trong khi mức độ lan tỏa công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Nghiên cứu của nhóm chuyên gia Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng hiện tại, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu thu nhập cao. Ngược lại, nếu cải cách mạnh mẽ và xử lý đúng các điểm nghẽn, Việt Nam có khả năng trở thành quốc gia thu nhập cao vào khoảng năm 2045-2047.
Theo đó, tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) cần được cải thiện mạnh, từ khoảng 0,2% hiện nay lên bình quân khoảng 2% mỗi năm. Trọng tâm là đầu tư cho công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng nội lực của doanh nghiệp Việt Nam.
GS.TS Nguyễn Trọng Hoài đề xuất chuyển từ mô hình “1i”, chủ yếu dựa vào Investment (đầu tư), sang mô hình “3i” gồm Investment, Infusion và Innovation, tương ứng với đầu tư, lan tỏa công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Doanh nghiệp Việt phải tạo ra giá trị do mình làm chủ
Cùng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế và Quản lý công, Trưởng khoa Kế hoạch phát triển, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng mô hình tăng trưởng phải chuyển mạnh từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo ông Sơn, Việt Nam cần tạo ra những giá trị đặc thù do chính doanh nghiệp Việt Nam làm chủ thay vì chủ yếu tham gia khâu gia công. Để hình thành động lực mới, cần nâng chất lượng thể chế, xây dựng năng lực quản trị hiệu quả và tạo cơ chế kết nối chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và khu vực công nghệ.
Ông đề xuất 7 yếu tố cho mô hình phát triển mới, gồm định hướng quốc gia và năng lực trung tâm; tự chủ, tích hợp và liên kết giữa Chính phủ, doanh nghiệp và công nghệ; chính sách công nghiệp có trọng tâm; phát triển nguồn nhân lực và năng lực mới; hạ tầng, tài chính phát triển và nền tảng số; mở cửa có chiến lược gắn với hội nhập toàn cầu; quản trị dựa trên bằng chứng và đồng thuận xã hội.
Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, cho rằng thành tựu sau 40 năm khẳng định tính đúng đắn của đường lối Đổi mới, song việc nhìn lại chặng đường này quan trọng hơn là để nhận diện giới hạn của mô hình hiện tại, những điểm nghẽn cần tháo gỡ và các động lực mới cần kiến tạo.
Theo ông Minh, bối cảnh hiện nay đòi hỏi
Việt Nam chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn, tài nguyên và lao động sang năng suất, tri thức, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; từ tham gia sang nâng vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu; từ tiếp nhận sang làm chủ, sáng tạo công nghệ; từ lợi thế chi phí sang lợi thế năng suất và năng lực cạnh tranh.
Trong đó, cần xác định rõ vai trò của các khu vực kinh tế, phát huy kinh tế nhà nước ở những lĩnh vực then chốt, đưa kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng và tăng khả năng liên kết, lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp trong nước. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số và kinh tế xanh cần trở thành những động lực tăng trưởng mới, trong đó con người, tri thức và năng lực sáng tạo giữ vai trò quyết định.
Ông Minh cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, đột phá thể chế để khơi thông nguồn lực, thông qua cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm và tăng cường liên kết vùng.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển không chỉ là GDP cao hơn mà là nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và sức mạnh tổng hợp của quốc gia trên nền tảng tự cường. Mô hình mới vì vậy phải giải quyết hài hòa giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng, hiệu quả kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, hội nhập quốc tế với nâng cao năng lực tự chủ.
Mục tiêu năm 2045 không chỉ đặt ra yêu cầu tăng trưởng nhanh hơn mà còn đòi hỏi hình thành một năng lực phát triển mới với năng suất cao hơn, công nghệ hiện đại hơn, nguồn nhân lực chất lượng cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn và thể chế đủ sức khơi thông, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước.