https://kevesko.vn/20261102/viet-nam-can-300-ty-usd-moi-nam-nang-suat-san-xuat-chua-bang-nua-trung-quoc-44814101.html
Việt Nam cần 300 tỷ USD mỗi năm, năng suất sản xuất chưa bằng nửa Trung Quốc
Việt Nam cần 300 tỷ USD mỗi năm, năng suất sản xuất chưa bằng nửa Trung Quốc
Sputnik Việt Nam
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%, theo chuyên gia, Việt Nam cần huy động 280–300 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, năng suất lao động trong ngành sản xuất hiện... 02.11.2026, Sputnik Việt Nam
2026-11-02T21:45+0700
2026-11-02T21:45+0700
2026-11-02T21:45+0700
việt nam
kinh tế
thông tin
tài chính
kinh doanh
https://cdn.img.kevesko.vn/img/345/31/3453135_0:311:2537:1738_1920x0_80_0_0_aef4c98e16054483a6230b3796f31463.jpg
Việt Nam cần 300 tỷ USD mỗi năm để GDP tăng hai chữ sốNgày 17/10, Chính phủ trình Quốc hội mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP năm 2027 từ 10% trở lên, gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026), TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, cho biết các nền kinh tế châu Á từng đạt tốc độ tăng trưởng hai chữ số như Singapore, Hàn Quốc và Trung Quốc đều duy trì tỷ trọng vốn đầu tư ở mức 35–40% GDP.Theo ông, Việt Nam cần duy trì vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP, đóng góp 40–42% vào tăng trưởng. Tương ứng, nhu cầu huy động vốn ước đạt 280–300 tỷ USD mỗi năm, với tốc độ tăng vốn khoảng 13–15%.Trong cơ cấu này, vốn nhà nước hiện chiếm khoảng 20–22% tổng đầu tư và có thể đáp ứng tối đa 30% nhu cầu. Phần lớn nguồn lực còn lại phải huy động từ khu vực tư nhân trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Thách thức là nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng, với tín dụng cung ứng khoảng 51% tổng vốn, trong khi thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 13–14%.Theo ông Lực, quy mô huy động vốn qua thị trường chứng khoán và trái phiếu còn nhỏ so với nhu cầu phát triển, đòi hỏi Việt Nam đẩy mạnh các kênh tài chính dài hạn, đồng thời khai thác nguồn lực từ tài chính xanh, thị trường carbon, tài sản số và kiều hối.Bà Wanming Du, Giám đốc Chính sách chỉ số khu vực châu Á - Thái Bình Dương của FTSE Russell, cũng nhận định Việt Nam cần lượng vốn trung và dài hạn rất lớn để phát triển hạ tầng, công nghệ cao và chuyển dịch năng lượng. Theo bà, thị trường vốn phát triển sâu rộng sẽ giúp đáp ứng nhu cầu tài chính ngày càng đa dạng, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính.Ở góc độ phân bổ nguồn lực, PGS.TS Phùng Thế Đông, chuyên gia kinh tế của Bộ Tài chính, cho rằng tín dụng ngân hàng và thị trường vốn cần được phát triển đồng bộ theo từng giai đoạn của dự án.Ngân hàng có thể đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu tư, xây dựng; khi công trình đi vào hoạt động và tạo dòng tiền, doanh nghiệp có thể huy động thêm vốn thông qua trái phiếu và các kênh tài chính khác.Ông Đông dẫn số liệu tăng trưởng tín dụng gần 11% so với đầu năm, trong khi huy động vốn tăng khoảng 9,8%, cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn và yêu cầu phát triển lực lượng nhà đầu tư dài hạn.Hàng nghìn dự án ách tắc, vốn chưa thể đi vào nền kinh tếBên cạnh huy động vốn, việc tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý và đẩy nhanh triển khai dự án được xem là yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng.Tại hội thảo về khơi thông dòng vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhấn mạnh thách thức không chỉ là huy động nguồn lực mà còn phải có cơ chế đưa vốn vào sử dụng hiệu quả.TS Nguyễn Thị Ngọc Hà, chuyên gia tài chính, cho biết tỷ lệ giải ngân đầu tư công đến hết quý III/2026 đạt 62,9% kế hoạch. Trong đó, khối cơ quan trung ương đạt 44,1%, còn các địa phương đạt 73,6%. Cùng kỳ, vốn đầu tư thực hiện tăng khoảng 15% theo giá hiện hành nhưng chỉ tăng 7,6% theo giá so sánh, phản ánh sự khác biệt giữa mức tăng vốn danh nghĩa và thực tế.Theo TS Cấn Văn Lực, khoảng 3.600 dự án đã được tháo gỡ vướng mắc hoặc có phương án xử lý, liên quan nguồn vốn đầu tư khoảng 2,4–2,5 triệu tỷ đồng. Ông ước tính, nếu trong giai đoạn 2026–2028 có khoảng 5.000 dự án được tháo gỡ và mỗi năm khoảng 30% lượng vốn liên quan được bổ sung vào nền kinh tế, tăng trưởng GDP có thể được cải thiện thêm 0,6–0,8 điểm phần trăm mỗi năm.Tuy nhiên, nguồn vốn chỉ có thể được đưa vào sử dụng khi dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện triển khai. Theo luật sư Phạm Thanh Tuấn, các địa phương cần rà soát, xác định cụ thể nguyên nhân vướng mắc của từng dự án để có phương án xử lý phù hợp. Việc hoàn thiện thủ tục pháp lý, quy hoạch và đất đai có vai trò quan trọng, bởi ngân hàng chỉ có thể cấp vốn cho những dự án đáp ứng điều kiện theo quy định.Để mở rộng kênh dẫn vốn, TS Cấn Văn Lực đề xuất phát triển thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư và định chế tài chính dài hạn. Ông cho biết các quỹ đầu tư hiện quản lý khoảng 850.000 tỷ đồng, bên cạnh nguồn lực lớn từ quỹ bảo hiểm xã hội.Chuyên gia cũng đề cập khả năng phát triển trái phiếu hạ tầng, trái phiếu chính quyền địa phương và quỹ tín thác đầu tư bất động sản, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, quản trị và công bố thông tin để tiếp cận nhà đầu tư. Theo các chuyên gia, huy động thêm vốn chưa đủ để duy trì tăng trưởng hai chữ số nếu hiệu quả sử dụng nguồn lực không được cải thiện.Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc cụm quốc gia Ngân hàng Thế giới (World Bank) phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào, nhấn mạnh chất lượng đầu tư quan trọng không kém quy mô vốn huy động. Tại AEF 2026, các chuyên gia chỉ ra hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam trong những năm gần đây còn cao so với mức 3–4 từng được ghi nhận ở các nền kinh tế châu Á trong giai đoạn tăng trưởng nhanh.TS Cấn Văn Lực cho rằng cần cải thiện hiệu quả phân bổ đầu tư công, trong đó điều chỉnh cơ cấu vốn hiện tập trung lớn vào hạ tầng để tăng đầu tư cho khoa học, công nghệ, giáo dục và y tế.Ông Fazurin Jamaludin, Trưởng đại diện thường trú Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam và Lào, cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khuôn khổ quản lý đầu tư công vững chắc, bảo đảm lựa chọn và triển khai những dự án mang lại hiệu quả tương xứng với nguồn lực bỏ ra.Ông Denis Depoux, Giám đốc điều hành toàn cầu công ty tư vấn Roland Berger (Đức), cho biết công nghiệp và chế tạo chiếm khoảng 36% GDP Việt Nam. Nếu tính thêm những ngành dịch vụ liên quan đến sản xuất, tỷ trọng này gần 80%.Theo ông, gia tăng vốn đầu tư đơn thuần không đủ để đưa GDP tăng trưởng 10%. Việt Nam cần nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động ở mọi khu vực, từ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đến tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đặc biệt thông qua đổi mới sáng tạo và hiện đại hóa chuỗi công nghiệp.Bà Mariam J. Sherman cũng cảnh báo mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tích lũy vốn và lao động không còn đủ để Việt Nam đạt mục tiêu thu nhập cao. Theo số liệu bà dẫn, tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam gần như bằng không kể từ năm 1990. Một lao động trong ngành sản xuất tạo ra khoảng 6,7 USD giá trị gia tăng mỗi giờ, chưa bằng một nửa mức của Trung Quốc, trong khi khoảng 85% việc làm trong khu vực xuất khẩu vẫn tập trung vào các hoạt động sản xuất, lắp ráp.Đại diện World Bank đánh giá Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã xác định đúng định hướng, song Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy doanh nghiệp tiến lên các công đoạn có giá trị cao hơn, tạo việc làm chất lượng tốt hơn và chuyển mạnh vai trò của Nhà nước từ điều hành sang kiến tạo phát triển.Tại phiên đối thoại với Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Stephan Mergenthaler ngày 28/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam kiên định ổn định chính trị - xã hội và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, coi đây là điều kiện tiên quyết để phát triển nhanh, bền vững và bao trùm.Theo các chuyên gia, khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số không chỉ phụ thuộc vào huy động 300 tỷ USD mỗi năm mà còn ở việc khơi thông dòng vốn đang bị ách tắc, phát triển thị trường tài chính dài hạn và nâng cao năng suất, hiệu quả đầu tư trên toàn nền kinh tế.
https://kevesko.vn/20261102/vuot-indonesia-gdp-binh-quan-dau-nguoi-viet-nam-co-the-dat-5259-usd-xep-thu-5-asean-44812828.html
https://kevesko.vn/20261102/pmi-viet-nam-dat-523-diem-xep-thu-6-trong-11-nen-kinh-te-chau-a-44802256.html
https://kevesko.vn/20260915/world-bank-cho-viet-nam-vay-hon-666-trieu-usd-lam-gi-44157182.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/345/31/3453135_0:74:2537:1976_1920x0_80_0_0_9aa7fc2ea8bb7f82cb7d5697c6832a4e.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, kinh tế, thông tin, tài chính, kinh doanh
việt nam, kinh tế, thông tin, tài chính, kinh doanh
Việt Nam cần 300 tỷ USD mỗi năm, năng suất sản xuất chưa bằng nửa Trung Quốc
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%, theo chuyên gia, Việt Nam cần huy động 280–300 tỷ USD mỗi năm. Tuy nhiên, năng suất lao động trong ngành sản xuất hiện chỉ đạt 6,7 USD/giờ, chưa bằng một nửa Trung Quốc. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao hiệu quả đầu tư và năng suất.
Việt Nam cần 300 tỷ USD mỗi năm để GDP tăng hai chữ số
Ngày 17/10, Chính phủ trình Quốc hội mục tiêu phấn đấu
tăng trưởng GDP năm 2027 từ 10% trở lên, gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026 (AEF 2026), TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, cho biết các nền kinh tế châu Á từng đạt tốc độ tăng trưởng hai chữ số như Singapore, Hàn Quốc và Trung Quốc đều duy trì tỷ trọng vốn đầu tư ở mức 35–40% GDP.
Theo ông, Việt Nam cần duy trì vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP, đóng góp 40–42% vào tăng trưởng. Tương ứng, nhu cầu huy động vốn ước đạt 280–300 tỷ USD mỗi năm, với tốc độ tăng vốn khoảng 13–15%.
Trong cơ cấu này, vốn nhà nước hiện chiếm khoảng 20–22% tổng đầu tư và có thể đáp ứng tối đa 30% nhu cầu. Phần lớn nguồn lực còn lại phải huy động từ khu vực tư nhân trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Thách thức là nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng, với tín dụng cung ứng khoảng 51% tổng vốn, trong khi thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 13–14%.
Theo ông Lực, quy mô huy động vốn qua thị trường chứng khoán và trái phiếu còn nhỏ so với nhu cầu phát triển, đòi hỏi Việt Nam đẩy mạnh các kênh tài chính dài hạn, đồng thời khai thác nguồn lực từ tài chính xanh, thị trường carbon, tài sản số và kiều hối.
Bà Wanming Du, Giám đốc Chính sách chỉ số khu vực châu Á - Thái Bình Dương của
FTSE Russell, cũng nhận định Việt Nam cần lượng vốn trung và dài hạn rất lớn để phát triển hạ tầng, công nghệ cao và chuyển dịch năng lượng. Theo bà, thị trường vốn phát triển sâu rộng sẽ giúp đáp ứng nhu cầu tài chính ngày càng đa dạng, đồng thời nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính.
Ở góc độ phân bổ nguồn lực, PGS.TS Phùng Thế Đông, chuyên gia kinh tế của Bộ Tài chính, cho rằng tín dụng ngân hàng và thị trường vốn cần được phát triển đồng bộ theo từng giai đoạn của dự án.
Ngân hàng có thể đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu tư, xây dựng; khi công trình đi vào hoạt động và tạo dòng tiền, doanh nghiệp có thể huy động thêm vốn thông qua trái phiếu và các kênh tài chính khác.
Ông Đông dẫn số liệu tăng trưởng tín dụng gần 11% so với đầu năm, trong khi huy động vốn tăng khoảng 9,8%, cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn và yêu cầu phát triển lực lượng nhà đầu tư dài hạn.
Hàng nghìn dự án ách tắc, vốn chưa thể đi vào nền kinh tế
Bên cạnh huy động vốn, việc tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý và đẩy nhanh triển khai dự án được xem là yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng.
Tại hội thảo về khơi thông dòng vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhấn mạnh thách thức không chỉ là huy động nguồn lực mà còn phải có cơ chế đưa vốn vào sử dụng hiệu quả.
TS Nguyễn Thị Ngọc Hà, chuyên gia tài chính, cho biết tỷ lệ giải ngân đầu tư công đến hết quý III/2026 đạt 62,9% kế hoạch. Trong đó, khối cơ quan trung ương đạt 44,1%, còn các địa phương đạt 73,6%. Cùng kỳ, vốn đầu tư thực hiện tăng khoảng 15% theo giá hiện hành nhưng chỉ tăng 7,6% theo giá so sánh, phản ánh sự khác biệt giữa mức tăng vốn danh nghĩa và thực tế.
Theo TS Cấn Văn Lực, khoảng 3.600 dự án đã được tháo gỡ vướng mắc hoặc có phương án xử lý, liên quan nguồn vốn đầu tư khoảng 2,4–2,5 triệu tỷ đồng. Ông ước tính, nếu trong giai đoạn 2026–2028 có khoảng 5.000 dự án được tháo gỡ và mỗi năm khoảng 30% lượng vốn liên quan được bổ sung vào nền kinh tế, tăng trưởng GDP có thể được cải thiện thêm 0,6–0,8 điểm phần trăm mỗi năm.
Tuy nhiên, nguồn vốn chỉ có thể được đưa vào sử dụng khi dự án đáp ứng đầy đủ điều kiện triển khai. Theo luật sư Phạm Thanh Tuấn, các địa phương cần rà soát, xác định cụ thể nguyên nhân vướng mắc của từng dự án để có phương án xử lý phù hợp. Việc hoàn thiện thủ tục pháp lý, quy hoạch và đất đai có vai trò quan trọng, bởi ngân hàng chỉ có thể cấp vốn cho những dự án đáp ứng điều kiện theo quy định.
Để mở rộng kênh dẫn vốn, TS Cấn Văn Lực đề xuất phát triển thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, các quỹ đầu tư và định chế tài chính dài hạn. Ông cho biết các quỹ đầu tư hiện quản lý khoảng 850.000 tỷ đồng, bên cạnh nguồn lực lớn từ quỹ bảo hiểm xã hội.
Chuyên gia cũng đề cập khả năng phát triển trái phiếu hạ tầng, trái phiếu chính quyền địa phương và quỹ tín thác đầu tư bất động sản, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, quản trị và công bố thông tin để tiếp cận nhà đầu tư. Theo các chuyên gia, huy động thêm vốn chưa đủ để duy trì tăng trưởng hai chữ số nếu hiệu quả sử dụng nguồn lực không được cải thiện.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc cụm quốc gia Ngân hàng Thế giới (World Bank) phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào, nhấn mạnh chất lượng đầu tư quan trọng không kém quy mô vốn huy động. Tại AEF 2026, các chuyên gia chỉ ra hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam trong những năm gần đây còn cao so với mức 3–4 từng được ghi nhận ở các nền kinh tế châu Á trong giai đoạn tăng trưởng nhanh.
TS Cấn Văn Lực cho rằng cần cải thiện hiệu quả phân bổ đầu tư công, trong đó điều chỉnh cơ cấu vốn hiện tập trung lớn vào hạ tầng để tăng đầu tư cho khoa học, công nghệ, giáo dục và y tế.
Ông Fazurin Jamaludin, Trưởng đại diện thường trú Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) tại Việt Nam và Lào, cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khuôn khổ quản lý đầu tư công vững chắc, bảo đảm lựa chọn và triển khai những dự án mang lại hiệu quả tương xứng với nguồn lực bỏ ra.
Ông Denis Depoux, Giám đốc điều hành toàn cầu công ty tư vấn Roland Berger (Đức), cho biết công nghiệp và chế tạo chiếm khoảng 36% GDP Việt Nam. Nếu tính thêm những ngành dịch vụ liên quan đến sản xuất, tỷ trọng này gần 80%.
Theo ông, gia tăng vốn đầu tư đơn thuần không đủ để đưa GDP tăng trưởng 10%. Việt Nam cần nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động ở mọi khu vực, từ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đến tư nhân và doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đặc biệt thông qua đổi mới sáng tạo và hiện đại hóa chuỗi công nghiệp.
Bà Mariam J. Sherman cũng cảnh báo mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tích lũy vốn và lao động không còn đủ để Việt Nam đạt mục tiêu thu nhập cao. Theo số liệu bà dẫn, tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam gần như bằng không kể từ năm 1990. Một lao động trong ngành sản xuất tạo ra khoảng 6,7 USD giá trị gia tăng mỗi giờ, chưa bằng một nửa mức của Trung Quốc, trong khi khoảng 85% việc làm trong khu vực xuất khẩu vẫn tập trung vào các hoạt động sản xuất, lắp ráp.
Đại diện World Bank đánh giá Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã xác định đúng định hướng, song Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy doanh nghiệp tiến lên các công đoạn có giá trị cao hơn, tạo việc làm chất lượng tốt hơn và chuyển mạnh vai trò của Nhà nước từ điều hành sang kiến tạo phát triển.
Tại phiên đối thoại với Giám đốc điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Stephan Mergenthaler ngày 28/10, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam kiên định ổn định chính trị - xã hội và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, coi đây là điều kiện tiên quyết để phát triển nhanh, bền vững và bao trùm.
Theo các chuyên gia, khả năng hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai chữ số không chỉ phụ thuộc vào huy động 300 tỷ USD mỗi năm mà còn ở việc khơi thông dòng vốn đang bị ách tắc, phát triển thị trường tài chính dài hạn và nâng cao năng suất, hiệu quả đầu tư trên toàn nền kinh tế.