Sự hỗ trợ của các chuyên gia Liên Xô cho Việt Nam: những năm chiến tranh

© Sputnik / Gleb SpiridonovВьетнамские ракетчики приводят советскую ракету "Земля - Воздух" в боевое положение.
Вьетнамские ракетчики приводят советскую ракету Земля - Воздух в боевое положение. - Sputnik Việt Nam, 1920, 23.05.2026
Đăng ký
Tiếp nối chủ đề về công việc của các chuyên gia Liên Xô tại Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, bài mạn đàm này sẽ tập trung vào những hoạt động của công dân Liên Xô tại Việt Nam trong những năm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Những năm 1953-1991, Liên Xô đã đưa sang Việt Nam 2.000 xe tăng, 1.700 xe bọc thép chở quân, 7.000 đại bác và súng cối, hơn 5.000 pháo cao xạ, 158 hệ thống tên lửa phòng không, hơn 700 máy bay chiến đấu, 120 máy bay trực thăng và hơn 100 tàu chiến. 117 cơ sở quân sự đã được đưa vào hoạt động. Phần lớn viện trợ này được cung cấp trong thời kỳ chiến tranh trên không của Mỹ chống lại miền Bắc Việt Nam. Khi đó, Liên Xô đã đảm bảo hơn 3/4 tổng khối lượng viện trợ nước ngoài mà Việt Nam nhận được, chủ yếu để đẩy lùi cuộc xâm lược.
Trang thiết bị quân sự do Liên Xô gửi đến Việt Nam vào thời điểm đó là hiện đại nhất. Ví dụ, tiêm kích phản lực MiG. Được huấn luyện và trang bị chiến thuật từ các chuyên gia Liên Xô, các phi công Việt Nam đã điều khiển MiG-21 lập chiến công vang dội: bắn hạ mọi loại máy bay tối tân nhất của Mỹ, bao gồm cả cường kích F-105 và pháo đài bay B-52. Hệ thống tên lửa phòng không của Liên Xô có khả năng bắn trúng mục tiêu trên không ngay cả ở độ cao 25 ​​km. "Đây là những loại đạn nguy hiểm nhất từng được bắn từ mặt đất vào máy bay", tạp chí kỹ thuật quân sự Mỹ đã nhận định vào thời điểm đó. Súng trường tấn công Kalashnikov nổi tiếng thế giới và phiên bản cải tiến của T-34, loại xe tăng tốt nhất của Thế chiến II – cũng được cung cấp cho Việt Nam.
Cửa hàng bách hóa trung tâm tại Hà Nội, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 16.05.2026
Những trang sử vàng
Dấu vết của các kỹ sư và chuyên gia Liên Xô tại Việt Nam
Trong thời chiến, mười một nghìn chuyên gia từ Bộ Quốc phòng Liên Xô đã được cử đến Việt Nam để trực tiếp hỗ trợ, huấn luyện kỹ thuật và cùng bộ đội Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, cứu nước. Lực lượng này bao gồm các tướng lĩnh, sĩ quan và hạ sĩ quan từ nhiều binh chủng như tên lửa phòng không, không quân, pháo cao xạ và hải quân. Đến tháng 7 năm 1965, với sự giúp đỡ của Liên Xô, Việt Nam đã thiết lập một hệ thống phòng không toàn diện. Vào giai đoạn đầu khi tên lửa phòng không xuất hiện tại Việt Nam, các chuyên gia Liên Xô trực tiếp đảm nhiệm kíp chiến đấu để đánh chặn máy bay địch, đồng thời huấn luyện thực hành cho bộ đội Việt Nam, chuẩn bị cho họ khả năng chiến đấu độc lập.
Sáng ngày 1/5/1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mời Đại sứ Liên Xô Boris Chaplin đến Phủ Chủ tịch. "Khi nhìn thấy tôi, - Đại sứ viết trong hồi ký, - Thủ tướng đã không giấu được niềm xúc động, reo lên: "Chiến thắng! Chiến thắng rồi!" và ôm chầm lấy Đại sứ cùng cán bộ phiên dịch. Sau đó ông long trọng tuyên bố: “Theo ủy quyền của Bộ Chính trị, tôi mời đại sứ tới đây để báo tin vui về chiến thắng hoàn toàn của nhân dân Việt Nam. Trong niềm vui mừng phấn khởi này cả nước chúng tôi đều nhớ đến sự giúp đỡ to lớn mà Liên Xô đã dành cho Việt Nam. Trong chiến thắng hôm nay có phần đóng góp của Liên Xô. Hình ảnh có tính biểu tượng là chính xe tăng Liên Xô do những người lính tăng Việt Nam điều khiển, lần đầu tiên đã tiến vào Dinh Độc Lập, và bộ đội Giải phóng đã vào tiếp quản Sài Gòn trên những chiếc xe tải Liên Xô”.
Chiến tranh Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 25.07.2025
Những trang sử vàng
Đó là một ngày không bao giờ quên
Trong suốt những năm chiến tranh, ngoài viện trợ kỹ thuật quân sự, Liên Xô tiếp tục hỗ trợ cơ cấu kinh tế và xã hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cụ thể, năm 1971, hiệp định hợp tác kinh tế - kỹ thuật đã được ký kết, theo đó Matxcơva cung cấp hỗ trợ kỹ thuật trong việc xây dựng mười cơ sở mới, bên cạnh hơn năm mươi cơ sở mà các chuyên gia Liên Xô tiếp tục làm việc trong suốt thời chiến. Hai trong số đó đáng được đề cập đặc biệt.
Cuối tháng 8 năm 1969, vài ngày trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, một nhóm các bác sĩ hàng đầu Liên Xô được mời đến Hà Nội. Theo các bác sĩ Liên Xô và các bác sĩ Việt Nam, tình trạng sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đã rất nguy kịch. Một trong những chuyên gia y tế Liên Xô đến Hà Nội, Viện sĩ Yuri Lopukhin, hồi tưởng lại: "Chúng tôi được thông báo về quyết định của lãnh đạo Việt Nam là ướp xác Chủ tịch sau khi qua đời với mục đích bảo quản lâu dài thi hài đặt tại Lăng mộ. Sáng ngày 2 tháng 9, chúng tôi đã được khẩn cấp đưa đến bệnh viện 103. Trên đường đi, chúng tôi đã được thông báo tin buồn về cái chết của Chủ tịch. Tại bệnh viện, chúng tôi đã tiến hành cuộc khám nghiệm tử thi và ướp xác ban đầu để thi thể có thể được đưa đến nơi để người dân vĩnh biệt Người".
Sau Lễ quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt đầu cuộc thảo luận về nơi thực hiện các công việc ướp xác. Các chuyên gia Liên Xô đã nói lên ý kiến rằng, Matxcơva là nơi tốt nhất để thực hiện các công việc đó. Nhưng ban lãnh đạo Việt Nam muốn để các công việc phức tạp này được thực hiện tại Hà Nội. Và nhiệm vụ đó đã được thực hiện. Trong một vài ngày tất cả các thiết bị cần thiết đã được vận chuyển từ Matxcơva đến Hà Nội bằng đường không. Khi các chuyên gia Matxcơva bắt đầu ướp xác, Mỹ lại ném bom ồ ạt tấn công thủ đô Hà Nội. Trong điều kiện đó cần phải nhanh chóng đưa phòng thí nghiệm đến nơi an toàn cách Hà Nội 40km. Nhưng, ngay sau khi phòng thí nghiệm nối lại hoạt động, lại có tin về việc nhóm lính nhảy dù Mỹ có thể đổ bộ đường không tại nơi này. Lại một lần nữa phòng thí nghiệm phải vội vàng đưa đi sơ tán đến bờ sông Đà, trong một hang đá lớn có thể chịu đựng độ công phá của bom đạn rất lớn. Thi hài Chủ tịch đã ở lại đó cho đến khi Lăng Chủ tịch được xây dựng xong. Trở lại tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã thông qua quyết định cung cấp hỗ trợ kỹ thuật không hoàn lại cho nước VNDCCH trong việc xây dựng lăng Hồ Chí Minh. Tháng 9 năm 1973, các chuyên gia Liên Xô, với sự tham gia của các nhà xây dựng Việt Nam, bắt đầu thực hiện dự án do kiến ​​trúc sư người Matxcơva Garold Isakovich, người sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam, đề ra. Trong cuộc phỏng vấn với đài Tiếng nói nước Nga (tiền thân của Sputnik), một trong những người tham gia dự án này, Thiếu Tướng về hưu Yuri Prischepa, hồi tưởng lại như sau: "Các công việc xây dựng Lăng mộ và các đợt cung cấp thiết bị cho công trường này do phía Liên Xô tài trợ. Quan tài đã được làm ra tại các xí nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp Hàng không Liên Xô. Những người Việt Nam đã xây dựng lăng mộ dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia Liên Xô thường xuyên hiện diện tại cơ sở này. Quá trình lắp đặt thiết bị kỹ thuật đảm bảo quan tài luôn được giữ ở nhiệt độ và độ ẩm nhất định cũng đã được thực hiện theo cách đó".
Trung tâm Nghiên cứu và Công nghệ Nhiệt đới Nga-Việt tại Hà Nội - Sputnik Việt Nam, 1920, 16.02.2026
Những trang sử vàng
Trung tâm Nhiệt đới và sự hồi sinh của hệ sinh thái rừng Việt Nam
Lăng mộ là một cơ sở kỹ thuật phức tạp, với hai tầng ngầm, với hệ thống mạnh mẽ điều hòa không khí, với các đường dây điện, kết nối các camera và màn hình. Đồng thời, các chuyên gia Liên Xô đã xây dựng lại toàn bộ khu vực quảng trường Ba Đình. Một trong những mục tiêu chính là hạ thấp ít nhất ba độ nhiệt độ không khí xung quanh Lăng mộ. Đây là một nhiệm vụ vô cùng phức tạp có chú ý đến khí hậu Hà Nội, và nhiệm vụ này đã được thực hiện thành công. Và ngày 29/8/1975, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức khánh thành – ngôi nhà vĩnh cửu để nhân dân gặp lại Người sau ngày thống nhất. Các chuyên gia Nga vẫn thường xuyên đến Hà Nội để tư vấn cho các đồng nghiệp Việt Nam và cung cấp hỗ trợ toàn diện khi cần thiết.
Chính phủ Liên Xô cũng đã quyết định hỗ trợ Việt Nam xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội bằng nguồn vốn viện trợ không hoàn lại. Vào đầu những năm 1970, Liên Xô đảm nhận phần lớn công tác chuẩn bị, bao gồm lập bản thiết kế và thành lập các nhóm chuyên gia. Nhóm thiết kế do ông Garold Isakovich, một kiến ​​trúc sư nổi tiếng ở Việt Nam, người đã thiết kế Lăng Hồ Chí Minh, tượng đài Lenin và Cung văn hóa Hữu Nghị tại Hà Nội, dẫn đầu. Hàng chục nghìn tấn thép đặc biệt đã được nhập khẩu từ Liên Xô. Vào thời điểm đó, Liên Xô cấm xuất khẩu đá quý dùng trong xây dựng. Tuy nhiên, một ngoại lệ đã được áp dụng cho Lăng Hồ Chí Minh, Liên Xô cho phép xuất khẩu đá tự nhiên sang Việt Nam để ốp lát. Và Bảo tàng chính thức khánh thành vào ngày 19/05/1990, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала