Biển Đông - Sputnik Việt Nam, 1920
Biển Đông
Tin tức, sự kiện, quan điểm, bình luận về tình hình Biển Đông, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo.

Thấy gì từ chiến lược Biển Việt Nam trong kỷ nguyên mới ?

© Sputnik / Pavel Lvov  / Chuyển đến kho ảnhĐường bờ biển trên đảo Phú Quốc, Việt Nam
Đường bờ biển trên đảo Phú Quốc, Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 27.06.2026
Đăng ký
Việt Nam đã và đang chuyển mình mạnh mẽ trở thành một mắt xích công nghiệp không thể thiếu trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, phần lớn sự tăng trưởng đó cho đến nay vẫn mang đậm dấu ấn của tư duy kinh tế lục địa. Lối tư duy này đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử khi Hà Nội chuẩn bị ban hành Nghị quyết mới với tầm nhìn đến năm 2045.
Sau nhiều năm thực hiện các Chiến lược biển (Nghị quyết năm 2007 và 2018) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, mặc dù nhận thức về biển đã nâng lên, Việt Nam vẫn chưa thể bứt phá thành một "quốc gia biển mạnh" đúng nghĩa.
Nhìn nhận thẳng thắn vấn đề này, người đứng đầu Đảng và Nhà nước Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đã chỉ rõ một trọng tâm mang tính cách mạng: Phải chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển đơn thuần sang tư duy quản trị toàn bộ không gian phát triển biển quốc gia mạnh.

Bức tranh địa chính trị mới và "Cuộc cách mạng vật chất" tại Biển Đông

Biển Đông ngày nay không còn là vùng biển của những thập niên trước. Dưới góc nhìn địa chính trị, đây đang là nơi nắm giữ những đỉnh cao công nghệ và chứng kiến sự thay đổi toàn diện từ đáy biển, mặt biển, trên không cho đến không gian vũ trụ.
Chuyên gia cao cấp về Biển Đông Đại sứ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường, người đã nhất quán thúc đẩy tư tưởng xây dựng quốc gia biển mạnh từ những năm 2000, đồng thời là tác giả của cuốn sách chuyên khảo nổi tiếng "Về vấn đề Biển Đông" nhận định với Sputnik:

“Nếu như trước đây, xung đột hay đối đầu trên biển gắn liền với tàu chiến, tên lửa hay máy bay truyền thống, thì sau cuộc xung đột Ukraina, cục diện vật chất tại Biển Đông đã thay đổi hoàn toàn. Đó là sự lên ngôi tuyệt đối của các thiết bị không người lái, từ máy bay (UAV), tàu thủy cho đến tàu ngầm không người lái. Muốn trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam trước hết phải có nhận thức chiến lược sắc bén về sự thay đổi bản chất này”.

Sự chuyển dịch từ tư duy khai thác sang tư duy quản trị không gian biển quốc gia của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh các cường quốc đang tái định hình bàn cờ chiến lược.

“Chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới mang lại cả cơ hội lẫn thách thức lớn về an ninh và phát triển công nghệ. Trong bối cảnh này, các nước lớn đang có những điều chỉnh chiến lược quan trọng”.

Chuyên gia phân tích, Trung Quốc, từ những năm 2012 - 2013 đã hiện thực hóa chiến lược biến mình thành cường quốc biển và đại dương thực sự. Bắc Kinh đang đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là Đông Nam Á để tranh thủ lợi thế, đồng thời kiên quyết ngăn chặn Đài Loan độc lập, một kịch bản mà nếu xảy ra xung đột, Việt Nam sẽ là nơi chịu tác động liên quan trực tiếp.
Пратас из космоса - Sputnik Việt Nam, 1920, 17.06.2026
Biển Đông
Mặt trận mới của Bắc Kinh đã xuất hiện ở Biển Đông?
Ngược lại, nước Mỹ dưới thời ông Trump 1.0 và chính quyền đương nhiệm lại cho thấy những dấu hiệu sa lảnh một bước tại Biển Đông khi phải tập trung khôi phục sức mạnh nội tại, tái cấu trúc quan hệ với các đồng minh láng giềng (Canada, Mexico) và can dự trực tiếp vào Trung Đông cùng Israel.
Dù Washington vẫn tuyên bố về một "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở", khả năng hướng vào và mức độ quan tâm thúc đẩy các mục tiêu lớn tại vùng biển này đã không còn như trước.

Ngành đóng tàu: Bài học từ khối tư nhân và cơ hội hiếm có

Để thấy rõ khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn, hãy nhìn vào ngành đóng tàu. Trong khi Trung Quốc đã đạt đến trình độ đóng tàu theo kiểu "cắt may", đáp ứng mọi kích cỡ từ 3.000 tấn đến 3 vạn tấn theo bất kỳ yêu cầu nào để vươn lên vị trí số một thế giới. Theo sau là Hàn Quốc và Nhật Bản. Còn Việt Nam vẫn đang loay hoay sau sự sụp đổ của mô hình tập đoàn quốc doanh kiểu cũ.
Thế nhưng, cơ hội đang mở ra. Do suy yếu về năng lực đóng tàu hải quân tự thân, một quá trình khắc phục mà Washington phải mất ít nhất 10 năm, thì Mỹ đang phải chi tiền ra bên ngoài. Đây chính là cơ hội lớn cho Việt Nam nếu biết hiện đại hóa năng lực để nắm bắt phân khúc dịch vụ này.
“Việt Nam cần nhanh chóng hiện đại hóa năng lực để nắm bắt phân khúc dịch vụ này, phục vụ cho Mỹ. Còn đối với Nga, đối tác truyền thống mà Việt Nam kỳ vọng sẽ khai thác được tiềm năng khoa học công nghệ và nguồn vốn lớn dưới thời Thủ tướng mới để hiện đại hóa đất nước”.
Nhìn rộng ra bài học từ các quốc gia đi trước, Đại sứ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường thẳng thắn chỉ ra thực tế, đó là cả Hàn Quốc lẫn Trung Quốc đều không dễ gì nhường lại thị phần hay hỗ trợ cho Việt Nam.
Do đó, Việt Nam không thể trông chờ vào sự cho đi từ bên ngoài, mà phải tự lực tự cường bằng cơ chế nội lực. Giải pháp đột phá được đề xuất chính là mạnh dạn trao quyền, tạo cơ hội cho các tập đoàn tư nhân lớn trong nước cùng sát cánh với khối doanh nghiệp quân đội. Sự kết hợp giữa tính linh hoạt của tư nhân và kỷ cương, nguồn lực của quân đội sẽ là bệ phóng vững chắc nhất.
Tàu vận tải RMS Sierra Madre của Philippines cố tình neo đậu ở bãi cạn Second Thomas ở Biển Đông - Sputnik Việt Nam, 1920, 05.06.2026
Biển Đông
Việt Nam và Trung Quốc đàm phán thẳng thắn về Biển Đông
Trong những năm qua, lực lượng quân đội đã thầm lặng, chịu khó đầu tư phát triển các cơ sở đóng tàu quân sự và bước đầu làm được các dịch vụ đóng tàu quốc tế. Tuy nhiên, bài học lịch sử cho thấy Việt Nam không thể làm sống lại mô hình kiểu Vinashin cũ vì khối quốc doanh không thể vận hành hiệu quả mô hình này.

“Việt Nam có tiềm năng rất lớn từ gốc rễ ngành đóng tàu cũ. Giải pháp đột phá là phải hình thành một Tập đoàn công nghệ - công nghiệp biển thuộc khối tư nhân chuyên trách đóng tàu. Tập đoàn này phải vận hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với quân đội, được Nhà nước hỗ trợ cơ chế huy động vốn, đầu tư trang thiết bị, kết nối và kế thừa một số cơ sở đóng tàu truyền thống sẵn có nhằm phát triển nhanh chóng, tạo sự đột phá bất ngờ. Và tuyệt đối không để các cơ chế quản lý cũ tham dự vào”, Đại sứ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường nêu quan điểm.

Tất cả những dịch chuyển mang tính chiến lược ấy đều hướng tới một tiêu, đưa kinh tế biển bứt phá, đóng góp từ 60% vào GDP quốc gia, thay vì chỉ dựa vào nguồn thu từ đất liền vốn đã khai thác đến mức cạn kiệt.

Chọn điểm đột phá thay vì theo sau

Rõ ràng, với hơn 3.200 km bờ biển và vùng đặc quyền kinh tế rộng gấp 3 lần diện tích đất liền (khoảng 1 triệu km2), tài nguyên ven bờ của Việt Nam gần như đã cạn kiệt.
Nguồn thu từ đất tiền một năm hiện không bằng nguồn thu từ sản xuất đồ công nghệ chi tiết của các quốc gia tiên tiến. Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào tư duy khai thác thô hay phụ thuộc hoàn toàn vào các khu công nghiệp chế biến xuất khẩu truyền thống.
Trong kỷ nguyên mới, bài toán phát triển vùng cần những hành động rất thực chất.

“Việt Nam đi sau không thể chạy đua theo những ngành đối thủ đã quá mạnh. Việt Nam phải chọn các điểm đột phá mang tính phân khúc trong công nghệ để phục vụ trước hết cho các ngành kinh tế biển của chính mình, hướng tới mục tiêu đạt doanh thu 1.000 tỷ USD từ hội nhập và hiện đại hóa gắn với hạ tầng cốt lõi”, chuyên gia đưa ra khuyến nghị trước thực tế hiện nay.

Hạ tầng cảng biển và thách thức từ con đường Bắc Cực

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, một mũi nhọn không thể bỏ qua là xây dựng các cảng biển quốc tế gắn liền với các đặc khu kinh tế ven biển. Nhà nước đang tập trung đầu tư rất lớn vào hạ tầng cốt lõi này cùng hệ thống dịch vụ logistics. Dù đây là bước đi đúng đắn, song chuyên gia thẳng thắn nhận định nhận thức của chúng ta về không gian phát triển cảng biển quốc tế vẫn còn hơi muộn.
Đặc biệt, bài toán cảng biển Việt Nam phải được đặt trong một biến động địa chính trị toàn cầu mới. Đó là sự trỗi dậy của con đường hàng hải tuyến đường Bắc Cực, do hiện tượng biến đổi khí hậu khiến Bắc Băng Dương bắt đầu tan băng.
Nga phát triển hạm đội tàu chở khí hoả lỏng vùng Bắc Cực - Sputnik Việt Nam, 1920, 26.06.2026
Multimedia
Nga phát triển hạm đội tàu chở khí hoả lỏng vùng Bắc Cực
Theo Đại sứ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường trong giai đoạn 2035 - 2040, khi lượng băng tan ngày càng nhiều, con đường vận tải qua Bắc Cực sẽ trở nên thông thoáng. Khi đó, các cường quốc sản xuất lớn như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ tăng tần suất dịch chuyển sang sử dụng con đường Trung Bắc

“Hệ quả là con đường hàng hải đi qua Biển Đông và đi qua các eo biển tại khu vực Đông Nam Á (đặc biệt là eo Malacca giữa Malaysia và Indonesia) sẽ bị cạnh tranh gay gắt, vai trò trọng yếu của Việt Nam giảm xuống. Thực tế này sẽ nhìn thấy ngay trong giai đoạn 2035 - 2040. Đây là yếu tố bắt buộc phải được đưa vào phần nhận thức của Việt Nam về tương lai Biển Đông để có hướng đi phù hợp cho hệ thống cảng biển của mình”, TS. Trường nêu thách thức lớn buộc Việt Nam phải đưa vào tính toán chiến lược ngay từ bây giờ.

Cần những "lý thuyết thực tế" cho kỷ nguyên mới

Một thách thức mang tính vĩ mô mà Việt Nam phải đối mặt là kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng kiểu cũ (thời Bill Clinton, Tony Blair) đã thực sự kết thúc kể từ khi làn sóng bảo hộ thương mại và áp thuế cao quay trở lại nước Mỹ.
Tư duy hội nhập cũ dựa trên công thức cố định "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa" đang bị lung lay dữ dội khi Thiên thời và Địa lợi không còn bất đoạn.
Nhìn lại giai đoạn 20 năm (2000 - 2020), Việt Nam ban hành nhiều nghị quyết về biển nhưng lại thiếu đi các động tác khoa học công nghệ mang tính bản lề để hiện đại hóa đất nước, phần lớn vẫn dừng lại ở mức độ lý thuyết.
Để đạt được mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần một cuộc đại phẫu về cả tư duy lẫn cơ chế quản trị.
“Việt Nam phải dứt khoát từ bỏ tư duy phát triển kiểu lục địa để chuyển hẳn sang tư duy về biển và đại dương. Bản chất các nghị quyết chiến lược biển năm 2007 hay 2018 trước đây chủ yếu là lý thuyết, thiếu hành động thực tế. Muốn trở thành quốc gia biển mạnh, tư duy phát triển phải sát với thực tiễn, chấp nhận cởi mở về cơ chế, chính sách và có sự điều chỉnh đồng bộ”, chuyên gia cho hay.
Theo Đại sứ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở "tư duy nhiệm kỳ" tại 21 tỉnh, thành phố ven biển.
Sự thay đổi nhân sự liên tục sau mỗi 5 năm, 10 năm khiến các chiến lược biển bị đứt gãy, không có ai cam kết đồng hành dài hạn để đưa Việt Nam thành quốc gia biển mạnh. Để thành công, toàn hệ thống phải dám tự từ bỏ tư duy nhiệm kỳ này.
PGS.TS Nguyễn Thị Lan Anh - Sputnik Việt Nam, 1920, 19.06.2026
Người Việt Nam đầu tiên được bầu vào Tòa án Quốc tế về Luật Biển
Với cách tiếp cận toàn diện của Tổng Bí thư Tô Lâm đang thắp lên hy vọng mới khi ông được đánh giá là người có tư duy thực tiễn vô cùng mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới, kiên quyết chống lại căn bệnh "lý thuyết suông".
Khi các yếu tố bên ngoài biến động, lòng dân hướng về sự thay đổi chính là động lực lớn nhất.
Chiến lược biển mới sắp tới không thể lặp lại lối mòn lý thuyết của năm 2007 hay 2018, mà phải là một chương trình hành động có chủ kiến, có mũi nhọn đột phá.
Chỉ khi dũng cảm bước ra khỏi tư duy lục địa để nhìn bằng tầm nhìn đại dương, Việt Nam mới có thể tự chủ định hình lại cán cân chiến lược và bảo vệ vững chắc không gian sinh tồn của mình.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала