Mơ ước ngàn năm đã thành hiện thực

© Shutterstock/FOTODOM / satoriphotoNhà máy thủy điện Hòa Bình
Nhà máy thủy điện Hòa Bình - Sputnik Việt Nam, 1920, 25.07.2026
Đăng ký
Sputnik tiếp nối chủ đề về công tác của tập thể chuyên gia và kỹ sư xây dựng năng lượng Liên Xô ở Việt Nam.
Vào những năm 50 của thế kỷ trước, tình trạng thiếu hụt điện năng tại miền Bắc Việt Nam ngày càng trở nên gay gắt. Năm 1959, Bộ Thủy lợi Việt Nam DCCH bắt đầu nghiên cứu khả năng khai thác năng lượng của sông Đà (còn gọi là sông Đen), tuy nhiên chẳng mấy chốc công việc này đã bị đình trệ. Sang những năm 60, sự thiếu hụt điện năng đã đến mức thảm họa. Vào đầu những năm 70, có các nhà máy điện lớn nhất lúc bấy giờ là Thủy điện Thác Bà và Nhiệt điện Uông Bí, công suất khoảng 110 megawatt mỗi nhà máy, được thiết kế và xây dựng với sự tham gia của Liên Xô nhằm nhanh chóng đáp ứng nhu cầu điện cấp bách nhất của Việt Nam DCCH - bởi xây dựng các cơ sở có công suất lớn hơn sẽ đòi hỏi thời gian dài hơn. Tuy nhiên, vào năm 1970, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi thư tới Thủ tướng Liên Xô Kosygin đề nghị xem xét hỗ trợ Việt Nam xây dựng thêm một nhà máy thủy điện khác – nhưng với quy mô lớn hơn nhiều và ít bị tổn thương hơn nhiều trước các cuộc không kích của máy bay Mỹ. Chuyện ở đây nói về dự án Nhà máy Thủy điện trên sông Đà.
Nhà máy thủy điện Trị An - Sputnik Việt Nam, 1920, 11.07.2026
Giai đoạn thứ ba trong sự hợp tác năng lượng giữa Liên Xô và Việt Nam
Matxcơva đã phúc đáp với câu trả lời chấp thuận, và vào tháng 8 năm 1970, hợp đồng đầu tiên về công tác khảo sát đã được ký kết. Tháng 10 cùng năm, thông qua hiệp định liên Chính phủ nhằm khởi động công tác thiết kế chung cho kế hoạch khai thác sông Đà. Ngay sau đó, các tổ chức ngoại thương của Liên Xô và Việt Nam đã ký kết hàng loạt hợp đồng, bao trọn toàn bộ phạm vi hỗ trợ của Liên Xô đối với việc xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình: từ thực hiện công tác thiết kế, cung cấp thiết bị xây dựng và công nghệ, cho đến cử các chuyên gia Liên Xô sang công trường và đào tạo nguồn nhân lực quốc gia.
Trả lời phỏng vấn của Ban Tiếng Việt của Đài phát thanh Matxcơva – tiền thân của Sputnik ngày nay – Bộ trưởng Bộ Xây dựng Việt Nam thời bấy giờ là ông Phan Ngọc Tường đã phát biểu rằng, từ bao đời nay nhân dân Việt Nam đã mơ ước chế ngự được sông Đà, con sông hung dữ và hiểm trở bậc nhất Việt Nam. Là một trong những phụ lưu của sông Hồng, sông Đà đổ vào sông Hồng hơn một nửa lượng nước hàng năm, không hiếm khi gây ra những trận lũ lụt thiệt hại nặng nề cho cả một vùng đồng bằng rộng lớn với hàng triệu cư dân sinh sống.
Các chuyên gia Matxcơva đã thiết kế cụm công trình thủy điện này như thế nào? Đập thủy điện Hòa Bình có chiều cao 128 mét và chiều dài 734 mét. Hồ chứa có dung tích khoảng 10 tỷ mét khối nước, giúp điều tiết một cách đáng tin cậy chế độ nước cho một vùng rộng lớn với diện tích hơn 1 triệu héc-ta, phần lớn được dùng để canh tác lúa. Điều này giúp xóa bỏ nguy cơ lũ lụt và thiết lập lại chế độ lưu thong vận tải thủy bình thường trên sông Đà và sông Hồng. Gian máy của nhà máy điện được xây ngầm dưới lòng đất, với chiều dài ¼ km (250 mét), chiều rộng 20 mét và chiều cao 55 mét. Nơi đây bố trí 8 tổ máy tuốc-bin phát điện với công suất mỗi tổ đạt 240 megawatt. Phía dưới sâu hàng chục mét là không gian dành cho các tuốc-bin, trạm biến áp và những thiết bị phụ trợ. Toàn bộ công trình kỳ vĩ này đã được khoét vào các tầng đá móng kiên cố nhất dưới sự hướng dẫn của các kỹ sư lành nghề trong công việc xây dựng tàu điện ngầm Matxcơva. Tổng công suất của nhà máy đạt 1.920 megawatt, tức là lớn gấp gần 9 lần tổng công suất của cả hai nhà máy Thác Bà và Uông Bí cộng lại.
Thành phố Đồng Nai, Việt Nam. Nhà máy điện Trị An, do Liên Xô tham gia xây dựng  - Sputnik Việt Nam, 1920, 04.07.2026
Các chuyên gia Liên Xô và sự ra đời của ngành năng lượng Việt Nam
Việc xây dựng các hạng mục công trình chính của nhà máy được khởi công vào tháng 11 năm 1979. Đến tháng 1 năm 1986, hồ chứa bắt đầu tích nước. Toàn bộ các công trình thuộc cụm thủy điện đã vượt qua thử thách một cách xuất sắc vào tháng 7 cùng năm, khi trận lũ trên sông Đà đạt đỉnh điểm – lưu lượng nước đổ lên tới 13.500 m3 trên một giây, tương đương với 13.500 tấn nước. Các nhà thầu xây dựng cũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nâng cao mặt đập thêm 60 mét chỉ trong vẻn vẹn 6 tháng vào năm 1987 – một tốc độ thi công chưa từng có trong lịch sử ngành xây dựng thủy điện toàn thế giới. Tổ máy số 1 được đưa vào vận hành vào ngày cuối cùng của năm 1988. Sau khi khởi động tổ máy số 2, thủ đô Hà Nội cũng đã được kết nối với nguồn điện của Hòa Bình.
Ông Leonid Krichevsky từng là phóng viên thường trú của Cơ quan Truyền hình và Phát thanh Liên Xô tại Việt Nam thời bấy giờ đã viết trong hồi ký của mình như sau:
“Sự kiện diễn ra tại Hà Nội vào cuối tháng 12 năm 1990. Thành phố từ lâu đã lâm vào tình trạng thiếu điện trầm trọng. Điện áp trong mạng lưới rất yếu, các đường phố và quảng trường, ngay cả ở trung tâm thành phố, vào buổi tối cũng chỉ có ánh đèn tù mù. Để tiết kiệm, điện thường xuyên bị cắt và không ai biết khi nào mới có lại. Bỗng nhiên, qua hệ thống loa phóng thanh vang lên thông báo rằng Hà Nội đang được kết nối với nhà máy thủy điện công suất lớn nhất. Và thế là cả Hà Nội rực sáng lung linh dưới ánh đèn rực rỡ chưa từng thấy bao giờ. Tất cả mọi người ồ lên phấn khởi, chúc mừng và ôm chầm lấy nhau. Giữa đám đông đang reo hò vui sướng đó, tôi đã gặp lại người bạn lâu năm là nhà hoạt động xã hội, thi sĩ Tố Hữu. Ông nói với tôi: “Cảm giác giống như có ngôi sao khổng lồ mới mẻ vừa thắp sáng trên bầu trời của chúng ta vậy. Danh tính của các chiến sĩ xây dựng Liên Xô và Việt Nam, những người đã vượt qua mọi gian nan để kiến thiết nên cụm công trình thủy điện này, sẽ mãi mãi in đậm trong tâm trí chúng tôi. Công trình lịch sử này sẽ phục vụ đất nước và nhân dân nước tôi suốt nhiều thế kỷ nữa”.
Toàn bộ cụm công trình thủy điện được bàn giao và đưa vào vận hành chính thức vào ngày 19 tháng 12 năm 1994 – là thời kỳ đã là “hậu Xô-viết” đối với nước Nga. Trong giai đoạn thi công cao điểm nhất, tổng cơ số đội ngũ chuyên viên xây dựng đã lên tới 40.000 người. Trong đó bao gồm các chuyên gia Liên Xô – với 905 kỹ sư và thợ cả, những người đã dày dặn kinh nghiệm và trưởng thành từ các công trường xây dựng công trình thủy điện lớn tại Liên bang Xô-viết rộng lớn. Nhiều người trong số họ đã được trao tặng huân chương và huy chương của Việt Nam vì công lao đóng góp tại Hòa Bình. Ông Pavel Bogachenko, một trong những chuyên gia thủy điện kỳ cựu nhất của Liên Xô, đã được bổ nhiệm làm Chánh chuyên gia Liên Xô tại công trình. Ông đã cống hiến 15 năm làm việc trên công trường, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam, và được trao tặng Huân chương Lao động cũng như Huân chương Độc lập của nước CHXHCN Việt Nam.
Chuyên gia Liên Xô M. Kiparisov và kỹ sư thủy lực Đoàn Thế Kỳ tại công trình xây dựng nhà máy thủy điện Bản Thạch thuộc tỉnh Thanh Hóa. - Sputnik Việt Nam, 1920, 13.06.2026
Các đóng góp của Liên Xô vào sự phát triển của nước Việt Nam thống nhất
Công trường trên sông Đà đòi hỏi tay nghề vững của những người thợ thuộc hơn 100 chuyên ngành. Việc đào tạo họ được tổ chức ngay tại công trình, trực tiếp tại nơi làm việc, dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia Liên Xô, cũng như tại trường dạy nghề thuộc Tổng công ty «Sông Đà», tại hệ tại chức của Học viện Xây dựng Hà Nội được mở ở Hòa Bình, và cả tại Học viện Kỹ thuật Xây dựng ở Matxcơva. Chất lượng đào tạo của họ được chứng tỏ bởi những sự thật sau: khoảng 800 người đã trở thành tổ trưởng, 340 người – thành đốc công và thợ cả, 100 người – thành lãnh đạo của các tổng công ty xây dựng. Đến hôm nay chúng ta vẫn ghi nhận chủ nghĩa anh hùng lao động của những người thợ xây dựng cụm công trình thủy điện. Nhất là khi việc xây dựng nhà máy được tiến hành trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Trong thời gian thực hiện các công việc đào núi và nổ mìn, 168 người thợ xây dựng đã hy sinh, trong số đó có 11 chuyên gia Liên Xô. Đài tưởng niệm được dựng lên cạnh nhà máy thủy điện nhắc nhở về chiến công lao động thầm lặng mà vinh quang của họ.
Trong chặng dài hai mươi năm hoạt động đầu tiên, cụm công trình thủy điện Hòa Bình đã là cơ sở sản xuất điện lớn nhất không chỉ ở Việt Nam, mà còn trong toàn bộ khu vực Đông Nam Á, và cho đến nay vẫn đóng vai trò quan trọng lớn lao trong việc đảm bảo an ninh năng lượng của nước CHXHCN Việt Nam.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала