https://kevesko.vn/20260613/cac-dong-gop-cua-lien-xo-vao-su-phat-trien-cua-nuoc-viet-nam-thong-nhat-42924180.html
Các đóng góp của Liên Xô vào sự phát triển của nước Việt Nam thống nhất
Các đóng góp của Liên Xô vào sự phát triển của nước Việt Nam thống nhất
Sputnik Việt Nam
Sputnik tiếp nối chủ đề về công việc của các chuyên gia Liên Xô tại Việt Nam sau khi đất nước thống nhất. Trong thời gian 15 năm, cho đến sự sụp đổ của... 13.06.2026, Sputnik Việt Nam
2026-06-13T08:37+0700
2026-06-13T08:37+0700
2026-06-13T08:37+0700
quan điểm-ý kiến
tác giả
việt nam
nga
liên xô
hợp tác nga-việt
chuyên gia
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/06/0b/42924472_0:276:3072:2004_1920x0_80_0_0_8022f49ff0ce4a1e963a674d1d95ef49.jpg
Trong giai đoạn này, Liên Xô là nhà tài trợ kinh tế chính của Việt Nam. Cho đến đầu những năm 1990, nguồn cung từ Liên Xô đáp ứng 100% nhu cầu của Việt Nam về các sản phẩm dầu mỏ và bông, 70% về phân bón khoáng và 75% về kim loại đen cán. Các cơ sở công nghiệp, năng lượng và khai khoáng do Liên Xô viện trợ xây dựng đã sản xuất 9/10 lượng than đá, cung cấp 2/3 sản lượng điện toàn quốc, hơn 1/3 lượng xi măng, khoảng 1/2 lượng máy công cụ và toàn bộ dầu mỏ, apatit và superphosphate.Trong thời gian 15 năm, nút giao đường sắt Hà Nội đã được tái thiết, một nhà máy sản xuất động cơ diesel và nhà máy xi măng Bim Sơn đã được xây dựng với sự hỗ trợ của Liên Xô và sự tham gia tích cực của các chuyên gia Liên Xô. Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô đã được khánh thành tại Hà Nội. Các nhà xây dựng Việt Nam và Liên Xô đã nỗ lực hết sức để đảm bảo Cung Văn hóa được khánh thành đúng dịp kỷ niệm 40 năm Quốc khánh. Cho đến ngày nay, cung điện này vẫn là trung tâm văn hóa và giải trí lớn nhất tại thủ đô Việt Nam.Cầu Thăng Long cũng chiếm một vị trí nổi bật trong số các công trình được xây dựng ở Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên Xô. Báo Nhân Dân vinh danh đây là biểu tượng sáng ngời của tình hữu nghị Việt Nam - Liên Xô và lưu ý rằng, cầu Thăng Long là công trình thế kỷ và là cây cầu vượt sông Hồng thứ hai tại Hà Nội sau cầu Long Biên. Khả năng chịu tải của cầu Long Biên bị giảm sút nghiêm trọng do bom đạn của Mỹ, khiến việc giao thương giữa trung tâm Hà Nội và các vùng công nghiệp phía Bắc, Đông Bắc bị ảnh hưởng nặng nề.Chính phủ Việt Nam đã quyết định tìm kiếm sự hỗ trợ từ Trung Quốc, quốc gia đã có kinh nghiệm xây dựng cầu hai tầng bắc qua sông Dương Tử ở Vũ Hán. Vào năm 1974, công trình này được khởi công với sự hỗ trợ vốn và kỹ thuật từ Trung Quốc. Tuy nhiên, đến năm 1978, do quan hệ ngoại giao hai nước xấu đi, Bắc Kinh đã đơn phương cắt viện trợ và rút toàn bộ chuyên gia về nước. Sự việc này khiến công trình bị bỏ dở dang. Đến thời điểm đó, chỉ có 20% công trình được hoàn thành. Điều này, cùng với nhiều hệ lụy khác, đã gây nguy hiểm cho chiến lược phát triển dài hạn của Hà Nội.Trong bối cảnh đó, ngày 3 tháng 11 năm 1978, tại Matxcơva, đồng thời với việc ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam, hai bên đã ký kết Hiệp định liên Chính phủ đánh dấu việc Liên Xô chính thức tiếp quản và nhận cung cấp viện trợ để hoàn thiện công trình cầu Thăng Long. Hàng chục viện thiết kế và doanh nghiệp công nghiệp của Liên Xô đã tham gia vào công việc này. Cụ thể, theo kế hoạch, Liên Xô đã sản xuất và vận chuyển đến Việt Nam khoảng 30.000 tấn kết cấu thép, xi măng chất lượng cao, máy móc và thiết bị xây dựng. Do quy mô dự án rất lớn, Bộ Xây dựng Giao thông vận tải Liên Xô đã chỉ thị ban quản lý Nhà máy Cầu Voronezh tổ chức lại toàn bộ quy trình sản xuất để đáp ứng nhu cầu của dự án xây dựng cầu Thăng Long tại Hà Nội.Tháng 7 năm 1979, nhóm chuyên gia Liên Xô đầu tiên đã đến công trường, bắt đầu không chỉ công tác xây dựng và lắp đặt mà còn đào tạo nhân lực Việt Nam, nâng tổng số lên đến tám nghìn người vào cuối dự án. Các chuyên gia Liên Xô đã tiến hành các buổi huấn luyện về công nghệ, phương pháp và đặc thù xây dựng cầu. Hơn một trăm công nhân xây dựng Việt Nam đã được gửi đến các cơ sở giáo dục của Liên Xô để đào tạo các chuyên ngành kỹ thuật và công nghệ, góp phần nâng cao đáng kể chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông.Ngày 1 tháng 2 năm 1985, phần cầu dẫn đường bộ được mở cửa cho giao thông. Và ngày 9 tháng 5 năm 1985, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng phát xít, cầu Thăng Long chính thức thông xe và đưa vào sử dụng. Vào thời điểm đó, cây cầu này là công trình hạ tầng giao thông lớn nhất Việt Nam và dài nhất Đông Nam Á. Cầu Thăng Long còn được gọi là cầu Hữu Nghị Việt – Xô có tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 10,7 km, bao gồm cả phần cầu dẫn đường bộ và đường sắt. Ngày nay, nó đóng vai trò là huyết mạch giao thông của Hà Nội, giải quyết các vấn đề về giao thông đường sắt và đường bộ tại khu vực kinh tế trọng điểm này.Dự án hợp tác quy mô lớn cuối cùng được phát triển trong thời kỳ Liên Xô là Trung tâm Nhiệt đới. Liên Xô không lâu sau đó đã tan rã, nhưng điều này không gây ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến các hoạt động của Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga. Tập thể khoa học tiếp tục nhận được nhiều lời khen ngợi từ cả lãnh đạo Nga và Việt Nam. Những thành tựu của Trung tâm Nhiệt đới bao gồm bảo tồn các khu rừng nguyên sinh và phát triển các phương pháp hiệu quả để phục hồi rạn san hô. Trung tâm cũng nghiên cứu vấn đề nóng lên toàn cầu. Ưu tiên hàng đầu được dành cho việc giải quyết hậu quả của chiến tranh hóa học do Hoa Kỳ gây ra đối với dân cư, thiên nhiên và động vật hoang dã của Việt Nam, cũng như các vấn đề vận hành và bảo trì thiết bị quân sự và dân sự của Liên Xô trong điều kiện khí hậu nhiệt đới.Hiệp định liên Chính phủ về việc thành lập Trung tâm đã được ký kết vào đầu năm 1987. Và đúng một năm sau, vào tháng 3 năm 1988, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Nhiệt đới hỗn hợp Việt - Xô chính thức được thành lập tại Hà Nội, với các chi nhánh ở Đà Nẵng và gần Thành phố Hồ Chí Minh. Các nhà khoa học và chuyên gia Liên Xô bắt đầu đến Việt Nam. Trong cuộc phỏng vấn với Sputnik, Tiến sĩ Khoa học Andrey Kuznetsov, Đồng Tổng Giám đốc phía Nga của Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga, lưu ý:
https://kevesko.vn/20260606/quoc-tich-lien-xo-noi-lam-viec-viet-nam-42834433.html
https://kevesko.vn/20260530/nam-1975-danh-dau-dai-thang-mua-xuan-nhung-chan-troi-moi-cho-su-hop-tac--42715741.html
https://kevesko.vn/20260523/su-ho-tro-cua-cac-chuyen-gia-lien-xo-cho-viet-nam-nhung-nam-chien-tranh-42655817.html
liên xô
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Alexei Syunnerberg
https://cdn.img.kevesko.vn/img/02/92/029272_20:0:979:959_100x100_80_0_0_a175c9e9e1ed2192c86b2b64af444e6a.jpg
Alexei Syunnerberg
https://cdn.img.kevesko.vn/img/02/92/029272_20:0:979:959_100x100_80_0_0_a175c9e9e1ed2192c86b2b64af444e6a.jpg
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/06/0b/42924472_0:0:2732:2048_1920x0_80_0_0_059d92b0fd6db1e0276f7faed6531993.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
Alexei Syunnerberg
https://cdn.img.kevesko.vn/img/02/92/029272_20:0:979:959_100x100_80_0_0_a175c9e9e1ed2192c86b2b64af444e6a.jpg
quan điểm-ý kiến, tác giả, việt nam, nga, liên xô, hợp tác nga-việt, chuyên gia
quan điểm-ý kiến, tác giả, việt nam, nga, liên xô, hợp tác nga-việt, chuyên gia
Các đóng góp của Liên Xô vào sự phát triển của nước Việt Nam thống nhất
Sputnik tiếp nối chủ đề về công việc của các chuyên gia Liên Xô tại Việt Nam sau khi đất nước thống nhất. Trong thời gian 15 năm, cho đến sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991, sự viện trợ của Matxcơva cho Việt Nam không ngừng tăng mạnh.
Trong giai đoạn này, Liên Xô là nhà tài trợ kinh tế chính của Việt Nam. Cho đến đầu những năm 1990, nguồn cung từ Liên Xô đáp ứng 100% nhu cầu của Việt Nam về các sản phẩm dầu mỏ và bông, 70% về phân bón khoáng và 75% về kim loại đen cán. Các cơ sở công nghiệp, năng lượng và khai khoáng do Liên Xô viện trợ xây dựng đã sản xuất 9/10 lượng than đá, cung cấp 2/3 sản lượng điện toàn quốc, hơn 1/3 lượng xi măng, khoảng 1/2 lượng máy công cụ và toàn bộ dầu mỏ, apatit và superphosphate.
Trong thời gian 15 năm, nút giao đường sắt Hà Nội đã được tái thiết, một nhà máy sản xuất động cơ diesel và nhà máy xi măng Bim Sơn đã được xây dựng với sự hỗ trợ của Liên Xô và sự tham gia tích cực của các chuyên gia Liên Xô. Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô đã được khánh thành tại Hà Nội. Các nhà xây dựng
Việt Nam và Liên Xô đã nỗ lực hết sức để đảm bảo Cung Văn hóa được khánh thành đúng dịp kỷ niệm 40 năm Quốc khánh. Cho đến ngày nay, cung điện này vẫn là trung tâm văn hóa và giải trí lớn nhất tại thủ đô Việt Nam.
Cầu Thăng Long cũng chiếm một vị trí nổi bật trong số các công trình được xây dựng ở Việt Nam với sự hỗ trợ của Liên Xô. Báo Nhân Dân vinh danh đây là biểu tượng sáng ngời của tình hữu nghị Việt Nam - Liên Xô và lưu ý rằng, cầu Thăng Long là công trình thế kỷ và là cây cầu vượt sông Hồng thứ hai tại Hà Nội sau cầu Long Biên. Khả năng chịu tải của cầu Long Biên bị giảm sút nghiêm trọng do bom đạn của Mỹ, khiến việc giao thương giữa trung tâm Hà Nội và các vùng công nghiệp phía Bắc, Đông Bắc bị ảnh hưởng nặng nề.
Chính phủ Việt Nam đã quyết định tìm kiếm sự hỗ trợ từ Trung Quốc, quốc gia đã có kinh nghiệm xây dựng cầu hai tầng bắc qua sông Dương Tử ở Vũ Hán. Vào năm 1974, công trình này được khởi công với sự hỗ trợ vốn và kỹ thuật từ Trung Quốc. Tuy nhiên, đến năm 1978, do quan hệ ngoại giao hai nước xấu đi, Bắc Kinh đã đơn phương cắt viện trợ và rút toàn bộ chuyên gia về nước. Sự việc này khiến công trình bị bỏ dở dang. Đến thời điểm đó, chỉ có 20% công trình được hoàn thành. Điều này, cùng với nhiều hệ lụy khác, đã gây nguy hiểm cho chiến lược phát triển dài hạn của
Hà Nội.
Trong bối cảnh đó, ngày 3 tháng 11 năm 1978, tại Matxcơva, đồng thời với việc ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam, hai bên đã ký kết Hiệp định liên Chính phủ đánh dấu việc Liên Xô chính thức tiếp quản và nhận cung cấp viện trợ để hoàn thiện công trình cầu Thăng Long. Hàng chục viện thiết kế và doanh nghiệp công nghiệp của Liên Xô đã tham gia vào công việc này. Cụ thể, theo kế hoạch, Liên Xô đã sản xuất và vận chuyển đến Việt Nam khoảng 30.000 tấn kết cấu thép, xi măng chất lượng cao, máy móc và thiết bị xây dựng. Do quy mô dự án rất lớn, Bộ Xây dựng Giao thông vận tải Liên Xô đã chỉ thị ban quản lý Nhà máy Cầu Voronezh tổ chức lại toàn bộ quy trình sản xuất để đáp ứng nhu cầu của dự án xây dựng cầu Thăng Long tại Hà Nội.
Tháng 7 năm 1979, nhóm chuyên gia Liên Xô đầu tiên đã đến công trường, bắt đầu không chỉ công tác xây dựng và lắp đặt mà còn đào tạo nhân lực Việt Nam, nâng tổng số lên đến tám nghìn người vào cuối dự án. Các chuyên gia Liên Xô đã tiến hành các buổi huấn luyện về công nghệ, phương pháp và đặc thù xây dựng cầu. Hơn một trăm công nhân xây dựng Việt Nam đã được gửi đến các cơ sở giáo dục của Liên Xô để đào tạo các chuyên ngành kỹ thuật và công nghệ, góp phần nâng cao đáng kể chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông.
Ngày 1 tháng 2 năm 1985, phần cầu dẫn đường bộ được mở cửa cho giao thông. Và ngày 9 tháng 5 năm 1985, nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng phát xít, cầu Thăng Long chính thức thông xe và đưa vào sử dụng. Vào thời điểm đó, cây cầu này là công trình hạ tầng giao thông lớn nhất Việt Nam và dài nhất Đông Nam Á. Cầu Thăng Long còn được gọi là cầu Hữu Nghị Việt – Xô có tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 10,7 km, bao gồm cả phần cầu dẫn đường bộ và đường sắt. Ngày nay, nó đóng vai trò là huyết mạch giao thông của Hà Nội, giải quyết các vấn đề về giao thông đường sắt và đường bộ tại khu vực kinh tế trọng điểm này.
Dự án hợp tác quy mô lớn cuối cùng được phát triển trong thời kỳ Liên Xô là Trung tâm Nhiệt đới. Liên Xô không lâu sau đó đã tan rã, nhưng điều này không gây ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến các hoạt động của Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga. Tập thể khoa học tiếp tục nhận được nhiều lời khen ngợi từ cả lãnh đạo Nga và Việt Nam. Những thành tựu của Trung tâm Nhiệt đới bao gồm bảo tồn các khu rừng nguyên sinh và phát triển các phương pháp hiệu quả để phục hồi rạn san hô. Trung tâm cũng nghiên cứu vấn đề nóng lên toàn cầu. Ưu tiên hàng đầu được dành cho việc giải quyết hậu quả của chiến tranh hóa học do Hoa Kỳ gây ra đối với dân cư, thiên nhiên và động vật hoang dã của Việt Nam, cũng như các vấn đề vận hành và bảo trì thiết bị quân sự và dân sự của Liên Xô trong điều kiện khí hậu nhiệt đới.
Hiệp định liên Chính phủ về việc thành lập Trung tâm đã được ký kết vào đầu năm 1987. Và đúng một năm sau, vào tháng 3 năm 1988, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Nhiệt đới hỗn hợp Việt - Xô chính thức được thành lập tại Hà Nội, với các chi nhánh ở Đà Nẵng và gần Thành phố Hồ Chí Minh. Các nhà khoa học và chuyên gia Liên Xô bắt đầu đến Việt Nam. Trong cuộc phỏng vấn với Sputnik, Tiến sĩ Khoa học Andrey Kuznetsov, Đồng Tổng Giám đốc phía Nga của Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga, lưu ý:
"Trung tâm Nhiệt đới là một tổ chức đáng kính, với hiện tại huy hoàng và chắc chắn là một tương lai tươi sáng. Chúng tôi đã xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2035. Theo thời gian, chúng tôi ngày càng hiểu rõ rằng, Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga là một hiện tượng thực sự hoạt động thành công trong suốt 38 năm qua".