https://kevesko.vn/20260810/viet-nam-truoc-buoc-ngoat-tien-te-cuoc-tai-thiet-dang-bat-dau-43664435.html
Việt Nam trước bước ngoặt tiền tệ: Cuộc tái thiết đang bắt đầu?
Việt Nam trước bước ngoặt tiền tệ: Cuộc tái thiết đang bắt đầu?
Sputnik Việt Nam
Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới của số hóa tài chính. Việc đưa đồng tiền kỹ thuật số quốc gia (CBDC) vào lộ trình chiến lược đến năm 2045 cho thấy định... 10.08.2026, Sputnik Việt Nam
2026-08-10T19:18+0700
2026-08-10T19:18+0700
2026-08-10T19:26+0700
việt nam
tác giả
quan điểm-ý kiến
kinh tế
chiến lược phát triển kinh tế
tiền
tiền tệ
đồng tiền mã hóa
đồng tiền
công nghệ
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/01/09/40630484_0:0:1920:1080_1920x0_80_0_0_cc2727b458c84b15ed524eba14f44987.jpg
Nước đi đúng thời điểmTheo Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến 2045, Chính phủ Việt Nam lên kế hoạch nghiên cứu, triển khai thử nghiệm CBDC từ năm 2029, do Ngân hàng Nhà nước bảo đảm giá trị.Sự kiện này cho thấy một bước chuyển dịch mang tính bước ngoặt trong tư duy quản lý vĩ mô của các nhà lãnh đạo Việt Nam, khi tiền kỹ thuật số không còn bị coi là một sản phẩm công nghệ thử nghiệm hay công cụ thanh toán phụ trợ, mà đã chính thức được nhìn nhận như một bộ phận cốt lõi của hạ tầng chủ quyền quốc gia trong tương lai.Phân tích vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - Giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) chia sẻ với Sputnik:Việt Nam không thể đứng ngoài xu thếSự bùng nổ của các đồng tư nhân (như USDT) hay các nền tảng tài chính phi tập trung xuyên biên giới đang đặt ra thách thức chưa từng có đối với công tác quản lý dòng tiền và an ninh tài chính của các nền kinh tế đang phát triển.PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nhận định rằng, xu hướng hiện nay đang chuyển sang tài chính hóa, mã hóa các nguồn lực tạo ra giá trị, trong đó công nghệ ngày càng đóng vai trò trực tiếp trong việc tạo ra các mô hình tài chính mới.Theo PGS.TS Lạng, nếu có cách tiếp cận phù hợp, Việt Nam vẫn có khả năng rút ngắn thời gian thử nghiệm và tận dụng những thành quả công nghệ đã được kiểm chứng ở các thị trường đi trước.Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mỗi quốc gia có một cách tiếp cận khác nhau. Trung Quốc đã đưa e-CNY vào nhiều hoạt động thanh toán; Ấn Độ, Brazil, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế khác đang thử nghiệm hoặc nghiên cứu.Đồng tình với quan điểm trên, PGS.TS Ngô Trí Long, nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) cho rằng, Việt Nam cần chủ động nghiên cứu, xây dựng cơ chế thử nghiệm và không nên chậm chân trước xu hướng tiền kỹ thuật số. Theo ông, đây không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn liên quan đến an ninh tài chính và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế số.Theo PGS.TS Ngô Trí Long, đồng tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành liên quan trực tiếp đến khả năng kiểm soát và vận hành dòng tiền trong nền kinh tế. Khi giao dịch ngày càng chuyển lên môi trường số, hạ tầng thanh toán cũng trở thành một bộ phận của năng lực kinh tế quốc gia.Nếu CBDC được triển khai, tác động của nó sẽ không dừng ở việc người dân có thêm một phương thức thanh toán. Nó có thể liên quan đến cách ngân hàng thương mại huy động vốn, cách dòng tiền vận động trong nền kinh tế, cách Nhà nước quản lý dữ liệu tài chính và thậm chí cả câu chuyện chủ quyền tiền tệ trong môi trường số.Quan điểm này cũng lý giải vì sao việc Chính phủ đưa CBDC vào chương trình cải cách thị trường tài chính có ý nghĩa lớn hơn một dự án công nghệ đơn thuần.CBDC có thể làm thay đổi vai trò của ngân hàng thương mạiKhác với ví điện tử hay chuyển khoản giữa các ngân hàng, vốn chỉ là sự dịch chuyển số dư tiền gửi giữa các Ngân hàng thương mại. CBDC là loại tiền do Ngân hàng Trung ương phát hành trực tiếp. Điều này mang lại hiệu năng giao dịch vượt trội, cắt giảm tối đa chi phí trung gian và mở ra khả năng thanh toán xuyên biên giới siêu tốc.Tuy nhiên, một mặt khác của CBDC nằm ở nguy cơ tái cấu trúc lại bức tranh huy động vốn. Nếu người dân có xu hướng dịch chuyển tài sản từ tiền gửi ngân hàng sang nắm giữ CBDC, vốn có rủi ro bằng 0 do Nhà nước bảo đảm, các Ngân hàng thương mại có thể đối mặt với rủi ro sụt giảm thanh khoản, đặc biệt trong các giai đoạn thị trường biến động.Do đó, theo chuyên gia, mô hình triển khai CBDC tại Việt Nam đòi hỏi một thiết kế chính sách cực kỳ khéo léo, làm sao vừa giải phóng được năng lực thanh toán số, vừa bảo tồn vai trò dẫn vốn cốt lõi của hệ thống ngân hàng thương mại.Ba "trụ cột" kích hoạt đồng tiền kỹ thuật số Việt NamMặc dù chưa có hành lang pháp lý chính thức cho tài sản số, theo dữ liệu từ Triple-A, Việt Nam thực tế đang đứng thứ hai thế giới về tỷ lệ người dân sở hữu tài sản kỹ thuật số, chỉ sau UAE. Trong khi đó, Hiệp hội Blockchain Việt Nam ước tính, Việt Nam thuộc nhóm ba quốc gia trên thế giới có mức lợi nhuận từ tiền số cao nhất.Những con số này cho thấy sức hút và dư địa của thị trường, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít vấn đề quản lý, làm gia tăng rủi ro cho người tham gia mà còn khiến cơ quan quản lý gặp khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền, quản trị rủi ro và bảo đảm nguồn thu thuế.Chính thực tế "đi trước mở đường" của thị trường đặt ra yêu cầu cấp bách về việc chuyển đổi tư duy quản lý. Theo chuyên gia kinh tế - PGS.TS Ngô Trí Long, thể chế kinh tế số tại Việt Nam đã được đặt những nền tảng ban đầu, song vẫn chưa thực sự hoàn thiện và cần tiếp tục được đổi mới theo hướng phù hợp với tốc độ phát triển của công nghệ.Ông cho rằng, điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm chủ yếu ở số lượng quy định pháp luật, mà ở tình trạng các quy định còn phân tán, chưa theo kịp sự vận động của công nghệ và việc tổ chức thực hiện giữa các cơ quan, lĩnh vực chưa bảo đảm tính đồng bộ.Từ đó, nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) nêu quan điểm, để triển khai thành công CBDC mà không gây sốc cho nền kinh tế, Việt Nam cần chuẩn bị nền móng vững chắc trên 3 trụ cột:Rõ ràng, đây là bài toán lớn của Việt Nam.Khi vừa phải xây dựng một đồng tiền kỹ thuật số quốc gia, vừa bảo đảm chủ quyền tiền tệ, vừa tạo thêm giá trị cho nền kinh tế. Trong khi, cũng phải đủ an toàn để người dân tin tưởng, mà vẫn đủ linh hoạt để doanh nghiệp có thể sử dụng.Đặc biệt, vẫn giữ được vai trò của ngân hàng thương mại, mà lại mở ra không gian mới cho đổi mới tài chính, và nhiệm vụ giữ vững chủ quyền tiền tệ quốc gia đến năm 2045.
https://kevesko.vn/20260603/dong-von-9-ty-do-la-singapore-va-suc-hut-cua-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-viet-nam-42802167.html
https://kevesko.vn/20231219/lien-bang-nga-va-trung-quoc-no-luc-dua-vao-su-dung-cac-loai-tien-ky-thuat-so-cua-rieng-minh-27174589.html
https://kevesko.vn/20260607/ngan-hang-lien-doanh-viet---nga-dam-bao-100-thanh-toan-bang-tien-te-quoc-gia-giua-nga-va-viet-nam-42864474.html
https://kevesko.vn/20231210/viet-nam-co-the-thanh-toan-voi-nga-bang-tien-rup-ky-thuat-so-trong-tuong-lai-26927163.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/01/09/40630484_135:0:1842:1280_1920x0_80_0_0_73d0f572f879264db6bef414052bd90b.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
việt nam, tác giả, quan điểm-ý kiến, kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế, tiền, tiền tệ, đồng tiền mã hóa, đồng tiền, công nghệ, đầu tư, tài chính, bộ tài chính vn, ngân hàng nhà nước
việt nam, tác giả, quan điểm-ý kiến, kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế, tiền, tiền tệ, đồng tiền mã hóa, đồng tiền, công nghệ, đầu tư, tài chính, bộ tài chính vn, ngân hàng nhà nước
Theo Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến 2045, Chính phủ Việt Nam lên kế hoạch nghiên cứu, triển khai thử nghiệm CBDC từ năm 2029, do Ngân hàng Nhà nước bảo đảm giá trị.
Sự kiện này cho thấy một bước chuyển dịch mang tính bước ngoặt trong tư duy quản lý vĩ mô của các nhà lãnh đạo Việt Nam, khi tiền kỹ thuật số không còn bị coi là một sản phẩm
công nghệ thử nghiệm hay công cụ thanh toán phụ trợ, mà đã chính thức được nhìn nhận như một bộ phận cốt lõi của hạ tầng chủ quyền quốc gia trong tương lai.
Phân tích vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - Giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) chia sẻ với Sputnik:
“Đối với đổi mới sáng tạo, chúng ta phải quyết liệt sở hữu công cụ và duy trì thế chủ động. Để không phụ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam bắt buộc phải tự chủ về đồng tiền, tự chủ về cơ chế, tự chủ về hệ sinh thái, tự chủ trong việc tạo ra các nguồn lực và chủ động nắm bắt mọi cơ hội phát triển. Việc Chính phủ chỉ đạo triển khai các đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính gắn với mục tiêu tăng trưởng cao, bao gồm cả nghiên cứu tiền đồng kỹ thuật số, là bước đi rất đúng thời điểm. Đề xuất về đồng VNDT không chỉ dừng lại ở một công cụ thanh toán, mà chính là một giải pháp sáng tạo mang tính chiến lược”, ông nhấn mạnh.
Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế
Sự bùng nổ của các đồng tư nhân (như USDT) hay các nền tảng tài chính phi tập trung xuyên biên giới đang đặt ra thách thức chưa từng có đối với công tác quản lý dòng tiền và an ninh
tài chính của các nền kinh tế đang phát triển.
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nhận định rằng, xu hướng hiện nay đang chuyển sang tài chính hóa, mã hóa các nguồn lực tạo ra giá trị, trong đó công nghệ ngày càng đóng vai trò trực tiếp trong việc tạo ra các mô hình tài chính mới.
“Xu hướng hiện nay là tài chính hóa, mã hóa các nguồn lực tạo ra tiền, đặc biệt là khai thác năng lượng sinh lời từ công nghệ. Tôi cho rằng, Việt Nam đang đi đúng hướng và cần tập trung triển khai thật nhanh. Một số quốc gia đã đi trước và đây chắc chắn là xu thế của tương lai. Tuy nhiên, khoảng cách giữa các nước với Việt Nam hiện chưa quá xa”.
Theo PGS.TS Lạng, nếu có cách tiếp cận phù hợp, Việt Nam vẫn có khả năng rút ngắn thời gian thử nghiệm và tận dụng những thành quả công nghệ đã được kiểm chứng ở các thị trường đi trước.

19 Tháng Mười Hai 2023, 14:53
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mỗi quốc gia có một cách tiếp cận khác nhau.
Trung Quốc đã đưa e-CNY vào nhiều hoạt động thanh toán; Ấn Độ, Brazil, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế khác đang thử nghiệm hoặc nghiên cứu.
“Nhìn ra thế giới, sự liên kết giữa các quốc gia đang mở ra hàng loạt cơ hội mới; nếu tận dụng tốt, triển vọng phát triển của chúng ta sẽ rất rộng mở. Từ thực tiễn đó, tôi từng đề xuất phát hành đồng tiền kỹ thuật số quốc gia VNDT, một mô hình tương tự USDT nhưng dưới sự bảo chứng của Nhà nước Việt Nam. Khác với các đồng tiền mã hóa tư nhân vốn thiếu tính định hướng rõ ràng, việc phát hành VNDT sẽ giúp Việt Nam khẳng định chủ quyền và vị thế trên thị trường tài chính số”, chuyên gia kinh tế nhấn mạnh.
Đồng tình với quan điểm trên, PGS.TS Ngô Trí Long, nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) cho rằng, Việt Nam cần chủ động nghiên cứu, xây dựng cơ chế thử nghiệm và không nên chậm chân trước xu hướng tiền kỹ thuật số. Theo ông, đây không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn liên quan đến an ninh tài chính và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế số.
“Việt Nam không nên đứng ngoài xu hướng này. Hiện Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển tiền kỹ thuật số nhờ vào tốc độ số hóa nhanh, sự quan tâm lớn của người dân và sự hỗ trợ từ chính sách kinh tế số. Nếu tận dụng tốt, tiền kỹ thuật số có thể trở thành động lực chính thúc đẩy nền kinh tế số, giúp Việt Nam vươn lên mạnh mẽ trong cuộc đua tài chính số toàn cầu”, vị chuyên gia chia sẻ với Sputnik khi đặt tiền kỹ thuật số trong mối quan hệ với quá trình chuyển đổi số, năng lực cạnh tranh và chủ quyền tài chính của quốc gia.
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, đồng tiền kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành liên quan trực tiếp đến khả năng kiểm soát và vận hành dòng tiền trong nền kinh tế. Khi giao dịch ngày càng chuyển lên môi trường số, hạ tầng thanh toán cũng trở thành một bộ phận của năng lực kinh tế quốc gia.
Nếu CBDC được triển khai, tác động của nó sẽ không dừng ở việc người dân có thêm một phương thức thanh toán. Nó có thể liên quan đến cách ngân hàng thương mại huy động vốn, cách dòng tiền vận động trong nền kinh tế, cách Nhà nước quản lý dữ liệu tài chính và thậm chí cả câu chuyện chủ quyền tiền tệ trong môi trường số.
Quan điểm này cũng lý giải vì sao việc Chính phủ đưa CBDC vào chương trình cải cách thị trường tài chính có ý nghĩa lớn hơn một dự án công nghệ đơn thuần.
“Nếu tiền là một phần của chủ quyền quốc gia, thì khi tiền chuyển sang môi trường số, chủ quyền ấy cũng phải được bảo đảm trên không gian số”, PGS.TS Ngô Trí Long cho hay.
CBDC có thể làm thay đổi vai trò của ngân hàng thương mại
Khác với ví điện tử hay chuyển khoản giữa các ngân hàng, vốn chỉ là sự dịch chuyển số dư tiền gửi giữa các Ngân hàng thương mại. CBDC là loại tiền do
Ngân hàng Trung ương phát hành trực tiếp. Điều này mang lại hiệu năng giao dịch vượt trội, cắt giảm tối đa chi phí trung gian và mở ra khả năng thanh toán xuyên biên giới siêu tốc.
“Công cụ này mở ra khả năng nâng cao hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia, đồng thời giảm bớt các tầng nấc trung gian và chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch. Quan trọng hơn, việc ứng dụng công nghệ số trong thanh toán còn góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính đối với người dân. Ở phạm vi quốc tế, đây cũng là hướng đi đáng chú ý để cải thiện hoạt động thanh toán xuyên biên giới, qua đó từng bước khắc phục những hạn chế về thời gian xử lý và chi phí giao dịch hiện nay”, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng chỉ rõ lợi thế.
Tuy nhiên, một mặt khác của CBDC nằm ở nguy cơ tái cấu trúc lại bức tranh huy động vốn. Nếu người dân có xu hướng dịch chuyển tài sản từ tiền gửi ngân hàng sang nắm giữ CBDC, vốn có rủi ro bằng 0 do Nhà nước bảo đảm, các Ngân hàng thương mại có thể đối mặt với rủi ro sụt giảm thanh khoản, đặc biệt trong các giai đoạn thị trường biến động.
Do đó, theo chuyên gia, mô hình triển khai CBDC tại Việt Nam đòi hỏi một thiết kế chính sách cực kỳ khéo léo, làm sao vừa giải phóng được năng lực thanh toán số, vừa bảo tồn vai trò dẫn vốn cốt lõi của hệ thống ngân hàng thương mại.
Ba "trụ cột" kích hoạt đồng tiền kỹ thuật số Việt Nam
Mặc dù chưa có hành lang pháp lý chính thức cho tài sản số, theo dữ liệu từ Triple-A, Việt Nam thực tế đang đứng thứ hai thế giới về tỷ lệ người dân sở hữu tài sản kỹ thuật số, chỉ sau UAE. Trong khi đó, Hiệp hội Blockchain Việt Nam ước tính, Việt Nam thuộc nhóm ba quốc gia trên thế giới có mức lợi nhuận từ tiền số cao nhất.
Những con số này cho thấy sức hút và dư địa của thị trường, nhưng đồng thời cũng đặt ra không ít vấn đề quản lý, làm gia tăng rủi ro cho người tham gia mà còn khiến cơ quan quản lý gặp khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền, quản trị rủi ro và bảo đảm nguồn thu
thuế.

10 Tháng Mười Hai 2023, 08:06
Chính thực tế "đi trước mở đường" của thị trường đặt ra yêu cầu cấp bách về việc chuyển đổi tư duy quản lý. Theo chuyên gia kinh tế - PGS.TS Ngô Trí Long, thể chế kinh tế số tại Việt Nam đã được đặt những nền tảng ban đầu, song vẫn chưa thực sự hoàn thiện và cần tiếp tục được đổi mới theo hướng phù hợp với tốc độ phát triển của công nghệ.
“Quan trọng hơn, tư duy quản lý cần có sự chuyển dịch từ quản lý trên cơ sở những gì đã hình thành, đang tồn tại sang tư duy kiến tạo phát triển; từ cách quản lý mang tính truyền thống sang quản lý dựa trên rủi ro, đồng thời nâng cao khả năng phản ứng và thích ứng trước sự xuất hiện nhanh chóng của các công nghệ mới”, ông nói.
Ông cho rằng, điểm nghẽn lớn hiện nay không nằm chủ yếu ở số lượng quy định pháp luật, mà ở tình trạng các quy định còn phân tán, chưa theo kịp sự vận động của công nghệ và việc tổ chức thực hiện giữa các cơ quan, lĩnh vực chưa bảo đảm tính đồng bộ.
Từ đó, nguyên viện trưởng Viện nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) nêu quan điểm, để triển khai thành công CBDC mà không gây sốc cho nền kinh tế, Việt Nam cần chuẩn bị nền móng vững chắc trên 3 trụ cột:
“Theo tôi, có ba nhóm nguồn lực cần được khai thông để tạo động lực mới cho kinh tế số. Đó là dữ liệu; tài sản vô hình gắn với dòng vốn đầu tư; và không gian dành cho đổi mới sáng tạo. Cần quán triệt năm yêu cầu cơ bản: minh bạch, đồng bộ, linh hoạt, an toàn và thích ứng. Khi những yêu cầu này được bảo đảm, các nguồn lực về công nghệ, vốn, nhân lực và năng lực sáng tạo sẽ có điều kiện được giải phóng và phát huy hiệu quả hơn, đóng góp vào quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, PGS.TS Ngô Trí Long nêu giải pháp.
Rõ ràng, đây là bài toán lớn của Việt Nam.
Khi vừa phải xây dựng một đồng tiền kỹ thuật số quốc gia, vừa bảo đảm chủ quyền tiền tệ, vừa tạo thêm giá trị cho nền kinh tế. Trong khi, cũng phải đủ an toàn để người dân tin tưởng, mà vẫn đủ linh hoạt để doanh nghiệp có thể sử dụng.
Đặc biệt, vẫn giữ được vai trò của ngân hàng thương mại, mà lại mở ra không gian mới cho đổi mới tài chính, và nhiệm vụ giữ vững chủ quyền tiền tệ quốc gia đến năm 2045.