https://kevesko.vn/20260814/viet-nam-con-dau-dau-cua-nhnn-khi-tin-dung-vuot-tien-gui-gan-77-ty-usd-43736735.html
Việt Nam: ‘Cơn đau đầu’ của NHNN khi tín dụng vượt tiền gửi gần 77 tỷ USD
Việt Nam: ‘Cơn đau đầu’ của NHNN khi tín dụng vượt tiền gửi gần 77 tỷ USD
Sputnik Việt Nam
Tín dụng toàn hệ thống tăng 8,98% sau 7 tháng, trong khi tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư tăng 5,75%. Khoảng cách giữa tín dụng và huy động vốn đã lên... 14.08.2026, Sputnik Việt Nam
2026-08-14T22:34+0700
2026-08-14T22:34+0700
2026-08-14T22:34+0700
việt nam
kinh tế
ngân hàng
tài sản
tài chính
tăng trưởng kinh tế
quan hệ
hợp tác
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e5/0a/04/11149102_0:26:2000:1151_1920x0_80_0_0_fdd4b15457891d279b49a41d37a901b6.jpg
Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, chênh lệch nguồn vốn khoảng 2 triệu tỷ đồngTheo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại cuộc làm việc với Thủ tướng Lê Minh Hưng ngày 13/8, tình trạng tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn đã kéo dài nhiều năm.Giai đoạn 2021-2025, tín dụng tăng nhanh hơn huy động bình quân khoảng 3,8 điểm phần trăm mỗi năm. Năm 2025, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động tăng 15,42%. Riêng năm 2023, hai chỉ tiêu tương đối sát nhau, lần lượt tăng 13,78% và 13,51%. Đến ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,26 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Khoảng 77,3% dư nợ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.Trong khi đó, tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư đến ngày 27/7 đạt 18.677,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,75%. Dư nợ cho vay bằng VND hiện cao hơn tiền gửi khoảng 2 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 77 tỷ USD), đưa tỷ lệ tín dụng trên huy động bằng VND lên 110,6%.Ngân hàng Nhà nước cảnh báo sự mất cân đối này “tiềm ẩn rủi ro đối với thanh khoản và lãi suất, đe dọa an toàn của các tổ chức tín dụng và sự ổn định của hệ thống tài chính, tiền tệ”.Áp lực đáng chú ý nằm ở cơ cấu kỳ hạn. Nguồn vốn trung, dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn, trong khi dư nợ trung, dài hạn chiếm tới 48,5%. Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn tăng từ 28,6% cuối năm 2025 lên 29,2% vào cuối tháng 6/2026.Trong khi đó, các chỉ tiêu an toàn hiện vẫn trong giới hạn, với LDR toàn hệ thống ở mức 77,1%, thấp hơn giới hạn 85%; tỷ lệ dự trữ thanh khoản đạt 17,7%, cao hơn mức quy định 10%.Tuy nhiên, sức ép nguồn vốn có thể gia tăng khi hàng loạt dự án lớn được triển khai. Theo NHNN, khoảng 35 dự án lớn, trọng điểm có tổng nhu cầu vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng. Với các dự án đầu tư trực tiếp, PPP, 5 dự án đường sắt đô thị Hà Nội và một số dự án lớn khác, nhu cầu tín dụng giai đoạn 2026-2030 qua rà soát sơ bộ khoảng 2,49 triệu tỷ đồng.Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở khoảng 145% vào cuối năm 2025. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp và chứng khoán chưa phát huy đầy đủ vai trò cung cấp vốn trung, dài hạn, khiến hệ thống ngân hàng vẫn phải đảm nhận phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.Tại cuộc làm việc ngày 13/8, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục phát triển thị trường vốn, khơi thông nguồn lực trung và dài hạn để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước phải tìm “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.Dư địa chính sách tiền tệ thu hẹpĐể hỗ trợ cung ứng vốn, NHNN đã nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác. Quy mô hoán đổi ngoại tệ cao nhất trong tháng 2/2026 đạt hơn 143.100 tỷ đồng, tương đương khoảng 6 tỷ USD.Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các ngân hàng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1 điểm phần trăm/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng.Tuy nhiên, dư địa hỗ trợ tăng trưởng của chính sách tiền tệ đang bị giới hạn bởi áp lực lạm phát và tỷ giá. CPI tháng 7 tăng 4,45% so với cùng kỳ. Theo báo cáo, để giữ lạm phát bình quân năm 2026 quanh 4,5%, CPI trong những tháng còn lại chỉ có thể tăng bình quân khoảng 0,34% mỗi tháng.Việt Nam từng trải qua tình trạng tương tự khi tín dụng tăng trưởng quá nhanh thúc đẩy các cơn sốt bất động sản, cuối cùng dẫn tới khủng hoảng ngân hàng và bất động sản vào năm 2012 và một lần nữa vào năm 2022.Trong bối cảnh tín dụng tiếp tục tăng nhanh, bài toán của hệ thống ngân hàng không chỉ là khả năng cho vay thêm, mà còn là tìm nguồn vốn tương ứng, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Khoảng cách tín dụng - huy động khoảng 2 triệu tỷ đồng càng cho thấy yêu cầu phát triển các kênh vốn ngoài ngân hàng để giảm áp lực lên hệ thống tín dụng.
https://kevesko.vn/20260811/thu-tuong-viet-nam-trieu-tap-cuoc-hop-voi-ngan-hang-nha-nuoc-va-cac-nha-bang-43681807.html
https://kevesko.vn/20260527/nhieu-ngan-hang-tang-lai-suat-tren-10nam-bat-chap-lenh-cua-ngan-hang-nha-nuoc-42728960.html
https://kevesko.vn/20260814/nhap-sieu-203-ty-usd-viet-nam-ra-soat-doanh-nghiep-nhap-nhieu-ma-xuat-it-43728509.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e5/0a/04/11149102_127:0:1907:1335_1920x0_80_0_0_0f35fc9310f4897faa5e3b0f1eb3f630.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, kinh tế, ngân hàng, tài sản, tài chính, tăng trưởng kinh tế, quan hệ, hợp tác
việt nam, kinh tế, ngân hàng, tài sản, tài chính, tăng trưởng kinh tế, quan hệ, hợp tác
Việt Nam: ‘Cơn đau đầu’ của NHNN khi tín dụng vượt tiền gửi gần 77 tỷ USD
Tín dụng toàn hệ thống tăng 8,98% sau 7 tháng, trong khi tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư tăng 5,75%. Khoảng cách giữa tín dụng và huy động vốn đã lên khoảng 2 triệu tỷ đồng, tạo áp lực lên thanh khoản và cân đối nguồn vốn khi nhu cầu vay trung, dài hạn tiếp tục tăng.
Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, chênh lệch nguồn vốn khoảng 2 triệu tỷ đồng
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tại cuộc làm việc với Thủ tướng Lê Minh Hưng ngày 13/8, tình trạng tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn đã kéo dài nhiều năm.
Giai đoạn 2021-2025, tín dụng tăng nhanh hơn huy động bình quân khoảng 3,8 điểm phần trăm mỗi năm. Năm 2025, tín dụng tăng 19,07%, trong khi huy động tăng 15,42%. Riêng năm 2023, hai chỉ tiêu tương đối sát nhau, lần lượt tăng 13,78% và 13,51%. Đến ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,26 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Khoảng 77,3% dư nợ phục vụ hoạt động sản xuất,
kinh doanh.
Trong khi đó, tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư đến ngày 27/7 đạt 18.677,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,75%. Dư nợ cho vay bằng VND hiện cao hơn tiền gửi khoảng 2 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 77 tỷ USD), đưa tỷ lệ tín dụng trên huy động bằng VND lên 110,6%.
Ngân hàng Nhà nước cảnh báo sự mất cân đối này “tiềm ẩn rủi ro đối với thanh khoản và lãi suất,
đe dọa an toàn của các tổ chức tín dụng và sự ổn định của hệ thống tài chính, tiền tệ”.
Áp lực đáng chú ý nằm ở cơ cấu kỳ hạn. Nguồn vốn trung, dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn, trong khi dư nợ trung, dài hạn chiếm tới 48,5%. Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn tăng từ 28,6% cuối năm 2025 lên 29,2% vào cuối tháng 6/2026.
Trong khi đó, các chỉ tiêu an toàn hiện vẫn trong giới hạn, với LDR toàn hệ thống ở mức 77,1%, thấp hơn giới hạn 85%; tỷ lệ dự trữ thanh khoản đạt 17,7%, cao hơn mức quy định 10%.
Tuy nhiên, sức ép nguồn vốn có thể gia tăng khi hàng loạt dự án lớn được triển khai. Theo NHNN, khoảng 35 dự án lớn, trọng điểm có tổng nhu cầu vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng. Với các dự án đầu tư trực tiếp, PPP, 5 dự án đường sắt đô thị Hà Nội và một số dự án lớn khác, nhu cầu tín dụng giai đoạn 2026-2030 qua rà soát sơ bộ khoảng 2,49 triệu tỷ đồng.
Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở khoảng 145% vào cuối năm 2025.
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp và chứng khoán chưa phát huy đầy đủ vai trò cung cấp vốn trung, dài hạn, khiến hệ thống ngân hàng vẫn phải đảm nhận phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Tại cuộc làm việc ngày 13/8, Thủ tướng yêu cầu tiếp tục phát triển thị trường vốn, khơi thông nguồn lực trung và dài hạn để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước phải tìm “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.
“Để đạt tốc độ tăng trưởng hai chữ số nhanh và bền vững trong nhiều năm, chúng ta cần tiếp tục củng cố nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào năng lực điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước”, Thủ tướng nhắc lại.
Dư địa chính sách tiền tệ thu hẹp
Để hỗ trợ cung ứng vốn, NHNN đã nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%, đồng thời hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác. Quy mô hoán đổi ngoại tệ cao nhất trong tháng 2/2026 đạt hơn 143.100 tỷ đồng, tương đương khoảng 6 tỷ USD.
Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các ngân hàng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và các lĩnh vực tạo động lực
tăng trưởng. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1 điểm phần trăm/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng.
Tuy nhiên, dư địa hỗ trợ tăng trưởng của chính sách tiền tệ đang bị giới hạn bởi áp lực lạm phát và tỷ giá. CPI tháng 7 tăng 4,45% so với cùng kỳ. Theo báo cáo, để giữ lạm phát bình quân năm 2026 quanh 4,5%, CPI trong những tháng còn lại chỉ có thể tăng bình quân khoảng 0,34% mỗi tháng.
Bloomberg Businessweek Vietnam dẫn ý kiến của chuyên gia kinh tế cấp cao phụ trách châu Á tại Capital Economics Gareth Leather cảnh báo: “Việc đẩy nhu cầu vượt quá khả năng cung ứng của nền kinh tế sẽ làm gia tăng rủi ro lạm phát và những điểm yếu tài chính”.
Việt Nam từng trải qua tình trạng tương tự khi tín dụng tăng trưởng quá nhanh thúc đẩy các cơn sốt bất động sản, cuối cùng dẫn tới khủng hoảng ngân hàng và bất động sản vào năm 2012 và một lần nữa vào năm 2022.
Trong bối cảnh tín dụng tiếp tục tăng nhanh, bài toán của hệ thống ngân hàng không chỉ là khả năng cho vay thêm, mà còn là tìm nguồn vốn tương ứng, đặc biệt là vốn trung và dài hạn. Khoảng cách tín dụng - huy động khoảng 2 triệu tỷ đồng càng cho thấy yêu cầu phát triển các kênh vốn ngoài ngân hàng để giảm áp lực lên hệ thống tín dụng.