https://kevesko.vn/20260817/giai-thuong-lev-tolstoy-nhin-tu-chinh-sach-quoc-phong-bon-khong-cua-viet-nam-43686048.html
Giải thưởng Lev Tolstoy nhìn từ chính sách quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam
Giải thưởng Lev Tolstoy nhìn từ chính sách quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam
Sputnik Việt Nam
Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được trao Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lev N. Tolstoy năm 2026, Đại tá Lê Thế Mẫu, nguyên Trưởng phòng Thông tin... 17.08.2026, Sputnik Việt Nam
2026-08-17T07:17+0700
2026-08-17T07:17+0700
2026-08-17T07:17+0700
quan điểm-ý kiến
tác giả
hợp tác nga-việt
chính sách
quốc phòng
bộ quốc phòng việt nam
đối ngoại quốc phòng
việt nam
liên bang nga
giải thưởng
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e9/05/09/36056999_0:0:3242:1824_1920x0_80_0_0_57e03a018623e56db3dbfb254abdb1ca.jpg
Ngày 24/7, Hội đồng Giám khảo Giải thưởng Hòa bình Quốc tế mang tên Lev N. Tolstoy nhất trí trao giải năm 2026 cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.Hội đồng ghi nhận những đóng góp của nhà lãnh đạo Việt Nam trong việc củng cố hòa bình, hợp tác giữa các dân tộc, thúc đẩy công bằng, tôn trọng luật pháp quốc tế, cũng như quảng bá truyền thống hòa bình, hữu nghị, nhân văn và đối thoại để hoá giải bất đồng trong quan hệ quốc tế của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam.Sputnik: Thưa ông, Hội đồng Giám khảo Giải thưởng Hòa bình Lev Tolstoy đánh giá cao những đóng góp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đối với hòa bình và hợp tác giữa các dân tộc. Từ góc độ chính sách quốc phòng của Việt Nam, theo ông, những đóng góp đó được thể hiện rõ nhất ở những điểm nào?Đại tá Lê Thế Mẫu: Việc Hội đồng Giám khảo Giải thưởng Hòa bình Lev Tolstoy ghi nhận những đóng góp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đối với hòa bình và hợp tác giữa các dân tộc chính là ghi nhận những đóng góp của Việt Nam được thể hiện trên bảy bình diện.Thứ nhất, Việt Nam theo đuổi chính sách quốc phòng tự vệ; không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Thực hiện chính sách này, Việt Nam hiện đại hóa quân đội không nhằm giành ưu thế quân sự, mở rộng ảnh hưởng hay đe dọa quốc gia khác mà chỉ nhằm mục đích tự vệ, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời phản đối chạy đua vũ trang dưới mọi hình thức.Thứ hai, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Trong điều kiện cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt tại Châu Á–Thái Bình Dương, chính sách quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam có tác dụng ngăn chặn sự hình thành các đường phân tuyến đối đầu, giảm nguy cơ quân sự hóa khu vực và tạo điều kiện để Việt Nam duy trì quan hệ quốc phòng với nhiều đối tác khác nhau. Tuy nhiên, “bốn không” không đồng nghĩa với trung lập thụ động hoặc từ bỏ quyền tự vệ. Việt Nam vẫn xác định sẽ căn cứ vào diễn biến tình hình và điều kiện cụ thể để thiết lập và phát triển quan hệ quốc phòng và quân sự cần thiết nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia.Thứ ba, Việt Nam đặt luật pháp quốc tế, trước hết là Hiến chương Liên hợp quốc ở vị trí trung tâm trong xử lý tranh chấp; chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng đối thoại, đàm phán và các biện pháp hòa bình; tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, Việt Nam nhất quán đề cao Hiến chương Liên Hợp Quốc và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; yêu cầu các bên kiềm chế, tránh hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, thực hiện đầy đủ Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên (DOC) và hướng tới xây dựng bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế. Quan điểm này của Việt Nam vừa góp phần tạo ra giới hạn pháp lý đối với việc sử dụng sức mạnh quân sự, vừa khẳng định rằng quyền và lợi ích của các quốc gia, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ, phải được bảo đảm bằng luật lệ chung.Thứ tư, Việt Nam thực hiện ngoại giao quốc phòng để xây dựng lòng tin chiến lược, coi ngoại giao quốc phòng là một bộ phận quan trọng của nền quốc phòng vì hòa bình. Thông qua đối thoại về chính sách quốc phòng, trao đổi đoàn, diễn tập quân sự chung, tuần tra chung, giao lưu biên giới và hợp tác quốc phòng, Việt Nam góp phần nâng cao tính minh bạch về chính sách và ý định chiến lược; ngăn ngừa tính toán sai lầm và va chạm ngoài ý muốn; xây dựng lòng tin giữa lực lượng vũ trang các nước; tạo kênh xử lý khủng hoảng trong những tình huống nhạy cảm; chuyển quan hệ quốc phòng từ nghi kỵ sang đối thoại và hợp tác thực chất. Cách tiếp cận “thêm bạn, bớt đối đầu” này giúp Việt Nam mở rộng không gian hợp tác ngay cả giữa những quốc gia còn tồn tại khác biệt.Thứ năm, Việt Nam tích cực và chủ động xây dựng cấu trúc an ninh khu vực lấy ASEAN làm trung tâm. Theo đó, Việt Nam tích cực tham gia và đề xuất sáng kiến tại các Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN với các đối tác (ADMM-Plus) và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Đặc biệt, trong thời gian giữ vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam có đóng góp quan trọng vào việc thành lập ADMM-Plus – cơ chế kết nối mười nước ASEAN với các đối tác lớn thông qua đối thoại và hợp tác quốc phòng. Các cơ chế này đưa các cường quốc có lợi ích khác nhau vào cùng một khuôn khổ đối thoại do ASEAN dẫn dắt. Qua đó, cạnh tranh chiến lược được quản lý bằng tiếp xúc, đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực tiễn thay vì chỉ dựa vào răn đe và liên minh quân sự.Thứ sáu, Việt Nam tích cực và chủ động tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Việc Việt Nam cử quân nhân, sĩ quan công an, bệnh viện dã chiến cấp 2 và đội công binh tham gia các phái bộ Liên Hợp Quốc đánh dấu bước chuyển từ “ủng hộ hòa bình” sang “trực tiếp kiến tạo hòa bình”.Thứ bảy, sẵn sàng hợp tác với tất cả cá quốc gia để đối phó các thách thức an ninh phi truyền thống. Chiến lược quốc phòng Việt Nam ngày càng coi trọng các biện pháp đối phó với các nguy cơ phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh mạng, an ninh biển và biến đổi khí hậu. Trong đó, Việt Nam tham gia với quân đội các nước diễn tập cứu trợ thảm họa, quân y, tìm kiếm cứu nạn, rà phá bom mìn và ứng phó dịch bệnh. Các hoạt động này của Việt Nam chứng tỏ quân đội không chỉ chuẩn bị đối phó chiến tranh mà còn trở thành lực lượng cung cấp “dịch vụ an ninh công cộng”, bảo vệ con người và hỗ trợ cộng đồng trong khủng hoảng.Sputnik: Chủ trương quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam thể hiện như thế nào tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, giải quyết bất đồng bằng đối thoại và không làm gia tăng căng thẳng?Đại tá Lê Thế Mẫu: Chủ trương quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam thể hiện rõ tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, ưu tiên đối thoại và không làm gia tăng căng thẳng được thể hiện trên sáu phương diện chủ yếu sau.Thứ nhất, Việt Nam xác định mục tiêu của quốc phòng là bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Việt Nam không coi bất kỳ quốc gia nào là kẻ thù và không sử dụng sức mạnh quân sự để theo đuổi tham vọng lãnh thổ hoặc áp đặt ý chí lên nước khác. Việc xây dựng tiềm lực và lực lượng quốc phòng chỉ mang tính phòng ngừa, tự vệ và chỉ nhằm ứng phó khi độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của đất nước bị xâm phạm.Thứ hai, chính sách quốc phòng “bốn không” tạo cơ sở pháp lý vừa để Việt Nam giữ vững độc lập, tự chủ, vừa tránh bị cuốn vào cạnh tranh giữa các nước lớn và không tạo ra mối đe dọa quân sự đối với bất kỳ quốc gia nào. Chính sách quốc phòng “bốn không” được thể hiện trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam.Thứ ba, Việt Nam nhất quán đặt việc xử lý tranh chấp trong khuôn khổ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đối với việc xử lý các vấn đề phát sinh do tranh châp trên Biển Đông, Việt Nam coi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định quyền, nghĩa vụ của các quốc gia và giải quyết tranh chấp. Việt Nam chủ trương sử dụng các biện pháp hòa bình như đàm phán, tham vấn, trung gian hòa giải và các cơ chế pháp lý quốc tế phù hợp; đồng thời yêu cầu các bên kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.Thứ tư, Việt Nam kết hợp giữa kiên quyết bảo vệ chủ quyền với kiên trì giữ gìn hòa bình. “Kiên quyết” là không nhân nhượng đối với độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia – dân tộc; “Kiên trì” là xử lý bất đồng bằng biện pháp hòa bình, thận trọng, có lý, có tình, tránh để xảy ra tính toán sai lầm hoặc va chạm vượt khỏi tầm kiểm soát. Trong giải quyết vấn đề Biển Đông, Việt Nam vừa đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, vừa duy trì đối thoại, thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin và thúc đẩy COC hiệu lực, thực chất, phù hợp với UNCLOS 1982.Thứ năm, Việt Nam sử dụng đối ngoại quốc phòng như một công cụ phòng ngừa xung đột. Theo đó, Việt Nam duy trì đối thoại về chính sách quốc phòng, giao lưu biên giới, đường dây nóng, hợp tác tìm kiếm cứu nạn, quân y, khắc phục hậu quả chiến tranh và tham gia các cơ chế quốc phòng ASEAN. Những hoạt động này làm tăng tính minh bạch, củng cố lòng tin và tạo kênh liên lạc để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, qua đó hạn chế nguy cơ hiểu lầm và leo thang quân sự.Thứ sáu, việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và cứu trợ nhân đạo quốc tế cho thấy quốc phòng không chỉ phục vụ bảo vệ đất nước mà còn đóng góp cho an ninh chung. Đây là biểu hiện thực tế của quan niệm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình”.Sputnik: Việc trao Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lev Tolstoy cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa như thế nào đối với vị thế và những đóng góp của Việt Nam cho hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới?Đại tá Lê Thế Mẫu: Việc trao Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lev Tolstoy cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa trên ba phương diện: đối với cá nhân nhà lãnh đạo, đối với Việt Nam và đối với thông điệp mà Việt Nam muốn chuyển tới cộng đồng quốc tế.Về phương diện cá nhân, Hội đồng Giám khảo ghi nhận quốc tế của đối với những đóng góp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trên cương vị Bí thư Đảng uỷ quân sự trung ương và Tổng Tư lệnh tối cao của Các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào việc củng cố hòa bình, hợp tác giữa các dân tộc, tôn trọng luật pháp quốc tế, cũng như truyền thống hòa bình, nhân văn, hoà hiếu và đối thoại của Việt Nam.Đối với Việt Nam, Hội đồng Giám khảo đánh giá cao vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam. Từ một đất nước từng phải trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, Việt Nam ngày nay chủ trương là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; duy trì quan hệ với nhiều trung tâm quyền lực khác nhau và tích cực tham gia các cơ chế đa phương.Là một quốc gia đã từng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngày nay Việt Nam vừa không bao giờ quên sự giúp đỡ toàn diện, chí nghĩa, chính tình và hiệu quả của các quốc gia hữu nghị truyền thống mà trước hết là nước Nga- quốc gia kế thừa vị thế pháp lý của Liên Xô, vừa sẵn sàng gác lại quá khứ với các quốc gia cựu thù để thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với họ khiến thông điệp hòa bình của Việt Nam có ý nghĩa rất đặc biệt. Việt Nam hiểu rất rõ cái giá của chiến tranh và giá trị của hòa bình. Vì vậy, chủ trương ngăn ngừa chiến tranh, giải quyết bất đồng bằng đối thoại, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia và luật pháp quốc tế không chỉ là lựa chọn đối ngoại mà còn xuất phát từ chính kinh nghiệm lịch sử của dân tộc Việt Nam.Ở cấp độ khu vực, một Việt Nam phát triển bền vững và ổn định, độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự chống nước khác và chủ động thúc đẩy hợp tác có tác dụng tích cực đối với cân bằng chiến lược và môi trường hòa bình ở Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương.Ở cấp độ toàn cầu, Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lev Tolstoy góp phần khẳng định rằng một quốc gia không nhất thiết phải là cường quốc mới có thể đóng góp quan trọng cho hòa bình. Việt Nam có thể đóng góp bằng uy tín chính trị, ngoại giao, đối thoại, xây dựng lòng tin, gìn giữ hòa bình và khả năng duy trì quan hệ với những đối tác có lợi ích khác biệt, thậm chí đối lập nhau.Sputnik: Xin cảm ơn Đại tá về những chia sẻ với Sputnik.
https://kevesko.vn/20260724/chu-tich-nuoc-to-lam-duoc-xuong-ten-la-nguoi-doat-giai-thuong-hoa-binh-leo-tolstoy-43461127.html
https://kevesko.vn/20260811/giai-thuong-lev-tolstoy-va-thong-diep-chu-dong-kien-tao-hoa-binh-cua-viet-nam-43666261.html
https://kevesko.vn/20260807/nguoi-dan-nga-noi-gi-ve-viet-nam-va-giai-thuong-hoa-binh-trao-cho-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-43637362.html
https://kevesko.vn/20260727/nhung-dong-gop-xuat-sac-cua-ong-to-lam-duoc-ghi-nhan-43484186.html
https://kevesko.vn/20260812/dan-chien-dau-co-viet-nam-pho-dien-nang-luc-cong-kich-muc-tieu-mat-dat-43684128.html
https://kevesko.vn/20260528/bo-truong-cong-an-viet-nam-va-thu-truong-quoc-phong-tham-du-dien-dan-an-ninh-tai-moskva-42736751.html
https://kevesko.vn/20260805/thong-diep-chong-vu-khi-hat-nhan-cua-nha-lanh-dao-viet-nam-to-lam-43600048.html
https://kevesko.vn/20260610/su-tu-te-trong-thong-diep-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-42901567.html
https://kevesko.vn/20260605/tbt-ctn-to-lam-phat-trien-la-lam-cho-dat-nuoc-co-nang-luc-ngay-cang-cao-hon-42840468.html
https://kevesko.vn/20260525/tbt-ctn-to-lam-phat-bieu-chinh-tai-shangri-la-2026-viet-nam-dang-duoc-nhin-nhan-nhu-the-nao-42688576.html
liên bang nga
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e9/05/09/36056999_0:0:2732:2048_1920x0_80_0_0_c0840803583a18d71a9db90d14e8e301.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
quan điểm-ý kiến, tác giả, hợp tác nga-việt, chính sách, quốc phòng, bộ quốc phòng việt nam, đối ngoại quốc phòng, việt nam, liên bang nga, giải thưởng, tô lâm, tổng bí thư, chủ tịch nước việt nam
quan điểm-ý kiến, tác giả, hợp tác nga-việt, chính sách, quốc phòng, bộ quốc phòng việt nam, đối ngoại quốc phòng, việt nam, liên bang nga, giải thưởng, tô lâm, tổng bí thư, chủ tịch nước việt nam
Ngày 24/7, Hội đồng Giám khảo Giải thưởng Hòa bình Quốc tế mang tên Lev N. Tolstoy nhất trí trao giải năm 2026 cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Hội đồng ghi nhận những đóng góp của nhà lãnh đạo Việt Nam trong việc củng cố hòa bình, hợp tác giữa các dân tộc, thúc đẩy công bằng, tôn trọng luật pháp quốc tế, cũng như quảng bá truyền thống hòa bình, hữu nghị, nhân văn và đối thoại để hoá giải bất đồng trong quan hệ quốc tế của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam.
Sputnik: Thưa ông, Hội đồng Giám khảo Giải thưởng Hòa bình Lev Tolstoy đánh giá cao những đóng góp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đối với hòa bình và hợp tác giữa các dân tộc. Từ góc độ chính sách quốc phòng của Việt Nam, theo ông, những đóng góp đó được thể hiện rõ nhất ở những điểm nào?
Đại tá Lê Thế Mẫu: Việc Hội đồng Giám khảo Giải thưởng Hòa bình Lev Tolstoy ghi nhận những đóng góp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đối với hòa bình và hợp tác giữa các dân tộc chính là ghi nhận những đóng góp của Việt Nam được thể hiện trên bảy bình diện.
Thứ nhất,
Việt Nam theo đuổi chính sách quốc phòng tự vệ; không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Thực hiện chính sách này, Việt Nam hiện đại hóa quân đội không nhằm giành ưu thế quân sự, mở rộng ảnh hưởng hay đe dọa quốc gia khác mà chỉ nhằm mục đích tự vệ, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời phản đối chạy đua vũ trang dưới mọi hình thức.
Thứ hai, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng
“bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Trong điều kiện cạnh tranh
chiến lược ngày càng gay gắt tại Châu Á–Thái Bình Dương, chính sách quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam có tác dụng ngăn chặn sự hình thành các đường phân tuyến đối đầu, giảm nguy cơ quân sự hóa khu vực và tạo điều kiện để Việt Nam duy trì quan hệ quốc phòng với nhiều đối tác khác nhau.
Tuy nhiên, “bốn không” không đồng nghĩa với trung lập thụ động hoặc từ bỏ quyền tự vệ. Việt Nam vẫn xác định sẽ căn cứ vào diễn biến tình hình và điều kiện cụ thể để thiết lập và phát triển quan hệ quốc phòng và quân sự cần thiết nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia.
Thứ ba, Việt Nam đặt luật pháp quốc tế, trước hết là Hiến chương Liên hợp quốc ở vị trí trung tâm trong xử lý tranh chấp; chủ trương giải quyết các tranh chấp bằng đối thoại, đàm phán và các biện pháp hòa bình; tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, Việt Nam nhất quán đề cao Hiến chương Liên Hợp Quốc và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; yêu cầu các bên kiềm chế, tránh hành động đơn phương làm phức tạp tình hình, thực hiện đầy đủ Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên (DOC) và hướng tới xây dựng bộ quy tắc ứng xử ở
Biển Đông (COC) thực chất, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Quan điểm này của Việt Nam vừa góp phần tạo ra giới hạn pháp lý đối với việc sử dụng sức mạnh quân sự, vừa khẳng định rằng quyền và lợi ích của các quốc gia, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ, phải được bảo đảm bằng luật lệ chung.
Thứ tư, Việt Nam thực hiện ngoại giao quốc phòng để xây dựng lòng tin chiến lược, coi ngoại giao quốc phòng là một bộ phận quan trọng của nền quốc phòng vì hòa bình. Thông qua đối thoại về chính sách quốc phòng, trao đổi đoàn, diễn tập quân sự chung, tuần tra chung, giao lưu biên giới và hợp tác quốc phòng, Việt Nam góp phần nâng cao tính
minh bạch về chính sách và ý định chiến lược; ngăn ngừa tính toán sai lầm và va chạm ngoài ý muốn; xây dựng lòng tin giữa lực lượng vũ trang các nước; tạo kênh xử lý khủng hoảng trong những tình huống nhạy cảm; chuyển quan hệ quốc phòng từ nghi kỵ sang đối thoại và hợp tác thực chất. Cách tiếp cận “thêm bạn, bớt đối đầu” này giúp Việt Nam mở rộng không gian hợp tác ngay cả giữa những quốc gia còn tồn tại khác biệt.
Thứ năm, Việt Nam tích cực và chủ động xây dựng cấu trúc an ninh khu vực lấy ASEAN làm trung tâm. Theo đó, Việt Nam tích cực tham gia và đề xuất sáng kiến tại các Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN với các đối tác (ADMM-Plus) và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF).
Đặc biệt, trong thời gian giữ vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010, Việt Nam có đóng góp quan trọng vào việc thành lập
ADMM-Plus – cơ chế kết nối mười nước ASEAN với các đối tác lớn thông qua đối thoại và hợp tác quốc phòng. Các cơ chế này đưa các cường quốc có lợi ích khác nhau vào cùng một khuôn khổ đối thoại do ASEAN dẫn dắt. Qua đó, cạnh tranh chiến lược được quản lý bằng tiếp xúc, đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực tiễn thay vì chỉ dựa vào răn đe và liên minh quân sự.
Thứ sáu, Việt Nam tích cực và chủ động tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Việc Việt Nam cử quân nhân, sĩ quan công an, bệnh viện dã chiến cấp 2 và đội công binh tham gia các phái bộ Liên Hợp Quốc đánh dấu bước chuyển từ “ủng hộ hòa bình” sang “trực tiếp kiến tạo hòa bình”.
Thứ bảy, sẵn sàng hợp tác với tất cả cá quốc gia để đối phó các thách thức an ninh phi truyền thống. Chiến lược quốc phòng Việt Nam ngày càng coi trọng các biện pháp đối phó với các nguy cơ phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia,
an ninh mạng, an ninh biển và biến đổi khí hậu. Trong đó, Việt Nam tham gia với quân đội các nước diễn tập cứu trợ thảm họa, quân y, tìm kiếm cứu nạn, rà phá bom mìn và ứng phó dịch bệnh. Các hoạt động này của Việt Nam chứng tỏ quân đội không chỉ chuẩn bị đối phó chiến tranh mà còn trở thành lực lượng cung cấp “dịch vụ an ninh công cộng”, bảo vệ con người và hỗ trợ cộng đồng trong khủng hoảng.
Sputnik: Chủ trương quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam thể hiện như thế nào tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, giải quyết bất đồng bằng đối thoại và không làm gia tăng căng thẳng?
Đại tá Lê Thế Mẫu: Chủ trương quốc phòng hòa bình, tự vệ của Việt Nam thể hiện rõ tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, ưu tiên đối thoại và không làm gia tăng căng thẳng được thể hiện trên sáu phương diện chủ yếu sau.
Thứ nhất, Việt Nam xác định mục tiêu của quốc phòng là bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Việt Nam không coi bất kỳ quốc gia nào là kẻ thù và không sử dụng sức mạnh quân sự để theo đuổi tham vọng lãnh thổ hoặc áp đặt ý chí lên nước khác. Việc xây dựng tiềm lực và lực lượng quốc phòng chỉ mang tính phòng ngừa, tự vệ và chỉ nhằm ứng phó khi độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của đất nước bị xâm phạm.
Thứ hai, chính sách quốc phòng “bốn không” tạo cơ sở pháp lý vừa để Việt Nam giữ vững độc lập, tự chủ, vừa tránh bị cuốn vào cạnh tranh giữa các nước lớn và không tạo ra mối đe dọa quân sự đối với bất kỳ quốc gia nào. Chính sách quốc phòng “bốn không” được thể hiện trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam.
Thứ ba, Việt Nam nhất quán đặt việc xử lý tranh chấp trong khuôn khổ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đối với việc xử lý các vấn đề phát sinh do tranh châp trên Biển Đông, Việt Nam coi Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (
UNCLOS 1982) là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định quyền, nghĩa vụ của các quốc gia và giải quyết tranh chấp. Việt Nam chủ trương sử dụng các biện pháp hòa bình như đàm phán, tham vấn, trung gian hòa giải và các cơ chế pháp lý quốc tế phù hợp; đồng thời yêu cầu các bên kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.
Thứ tư, Việt Nam kết hợp giữa kiên quyết bảo vệ
chủ quyền với kiên trì giữ gìn hòa bình. “Kiên quyết” là không nhân nhượng đối với độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia – dân tộc; “Kiên trì” là xử lý bất đồng bằng biện pháp hòa bình, thận trọng, có lý, có tình, tránh để xảy ra tính toán sai lầm hoặc va chạm vượt khỏi tầm kiểm soát. Trong giải quyết vấn đề Biển Đông, Việt Nam vừa đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, vừa duy trì đối thoại, thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin và thúc đẩy COC hiệu lực, thực chất, phù hợp với UNCLOS 1982.
Thứ năm, Việt Nam sử dụng đối ngoại quốc phòng như một công cụ phòng ngừa xung đột. Theo đó, Việt Nam duy trì
đối thoại về chính sách quốc phòng, giao lưu biên giới, đường dây nóng, hợp tác tìm kiếm cứu nạn, quân y, khắc phục hậu quả chiến tranh và tham gia các cơ chế quốc phòng ASEAN. Những hoạt động này làm tăng tính minh bạch, củng cố lòng tin và tạo kênh liên lạc để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh, qua đó hạn chế nguy cơ hiểu lầm và leo thang quân sự.
Thứ sáu, việc Việt Nam tham gia
lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và cứu trợ nhân đạo quốc tế cho thấy quốc phòng không chỉ phục vụ bảo vệ đất nước mà còn đóng góp cho an ninh chung. Đây là biểu hiện thực tế của quan niệm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng biện pháp hòa bình”.
Sputnik: Việc trao Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lev Tolstoy cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa như thế nào đối với vị thế và những đóng góp của Việt Nam cho hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới?
Đại tá Lê Thế Mẫu: Việc trao Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lev Tolstoy cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa trên ba phương diện: đối với cá nhân nhà lãnh đạo, đối với Việt Nam và đối với thông điệp mà Việt Nam muốn chuyển tới cộng đồng quốc tế.
Về phương diện cá nhân, Hội đồng Giám khảo ghi nhận quốc tế của đối với những đóng góp của
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trên cương vị Bí thư Đảng uỷ quân sự trung ương và Tổng Tư lệnh tối cao của Các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào việc củng cố hòa bình, hợp tác giữa các dân tộc, tôn trọng luật pháp quốc tế, cũng như truyền thống hòa bình, nhân văn, hoà hiếu và đối thoại của Việt Nam.
Đối với Việt Nam, Hội đồng Giám khảo đánh giá cao
vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam. Từ một đất nước từng phải trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, Việt Nam ngày nay chủ trương là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; duy trì quan hệ với nhiều trung tâm quyền lực khác nhau và tích cực tham gia các cơ chế đa phương.
Là một quốc gia đã từng đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngày nay Việt Nam vừa không bao giờ quên sự giúp đỡ toàn diện, chí nghĩa, chính tình và hiệu quả của các quốc gia hữu nghị truyền thống mà trước hết là nước Nga- quốc gia kế thừa vị thế pháp lý của
Liên Xô, vừa sẵn sàng gác lại quá khứ với các quốc gia cựu thù để thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với họ khiến thông điệp hòa bình của Việt Nam có ý nghĩa rất đặc biệt. Việt Nam hiểu rất rõ cái giá của chiến tranh và giá trị của hòa bình. Vì vậy, chủ trương ngăn ngừa chiến tranh, giải quyết bất đồng bằng đối thoại, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia và luật pháp quốc tế không chỉ là lựa chọn đối ngoại mà còn xuất phát từ chính kinh nghiệm lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Ở cấp độ khu vực, một Việt Nam phát triển bền vững và ổn định, độc lập, tự chủ, không tham gia liên minh quân sự chống nước khác và chủ động thúc đẩy hợp tác có tác dụng tích cực đối với cân bằng chiến lược và môi trường hòa bình ở
Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương.
Ở cấp độ toàn cầu, Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lev Tolstoy góp phần khẳng định rằng một quốc gia không nhất thiết phải là cường quốc mới có thể đóng góp quan trọng cho hòa bình. Việt Nam có thể đóng góp bằng uy tín chính trị,
ngoại giao, đối thoại, xây dựng lòng tin, gìn giữ hòa bình và khả năng duy trì quan hệ với những đối tác có lợi ích khác biệt, thậm chí đối lập nhau.
Sputnik: Xin cảm ơn Đại tá về những chia sẻ với Sputnik.