https://kevesko.vn/20260927/hop-tac-uav-viet---nga-khoi-dau-tu-nhung-manh-ghep-cong-nghe-loi-44295392.html
Hợp tác UAV Việt - Nga: Khởi đầu từ những "mảnh ghép" công nghệ lõi
Hợp tác UAV Việt - Nga: Khởi đầu từ những "mảnh ghép" công nghệ lõi
Sputnik Việt Nam
Làm chủ UAV không nhất thiết phải bắt đầu từ việc tự sản xuất mọi linh kiện. Khi Việt Nam hướng tới làm chủ thiết kế hệ thống, thuật toán cốt lõi và năng lực... 27.09.2026, Sputnik Việt Nam
2026-09-27T08:30+0700
2026-09-27T08:30+0700
2026-09-27T08:30+0700
tác giả
quan điểm-ý kiến
hợp tác nga-việt
uav
viễn thông
đại học
đào tạo
hàng không
vũ trụ
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e9/08/1a/37911005_0:100:1920:1180_1920x0_80_0_0_e1bc270eb3875a680344a786f04b066b.jpg
Trao đổi với Sputnik, TS. Phạm Hoàng Anh, Trưởng Lab Phương tiện tự hành và Hệ thống thông minh (AViS Lab), Khoa Kỹ thuật điện tử 1, Học viện Công nghệ bưu chính Viễn thông (PTIT), cho biết Học viện đang xúc tiến trao đổi với một số đối tác, trường đại học tại Nga để tìm kiếm cơ hội hợp tác trong nghiên cứu và đào tạo, trong đó có UAV và các hệ thống tự hành thông minh.Khi thế mạnh công nghệ Việt – Nga gặp nhauTheo TS. Phạm Hoàng Anh, ngay tại Bộ môn Điều khiển và Tự động hóa, một số giảng viên từng học tập, nghiên cứu và tốt nghiệp tiến sĩ tại Nga. Nền tảng chuyên môn, sự am hiểu môi trường học thuật và các mối liên hệ sẵn có là tiền đề thuận lợi để thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới. Ông cho rằng thế mạnh của hai bên có tính bổ trợ.Cũng theo ông Hoàng Anh, sự kết hợp này mở ra khả năng nghiên cứu từ thiết kế phương tiện bay đến các hệ thống điều khiển và xử lý thông minh trên phương tiện.Làm chủ UAV không nhất thiết phải tự sản xuất mọi linh kiệnTại PTIT, hướng nghiên cứu UAV được xây dựng trên nền tảng thế mạnh của Học viện về điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, điều khiển tự động và trí tuệ nhân tạo.Tại Bộ môn Điều khiển và Tự động hóa và AViS Lab, các hướng đang được thúc đẩy gồm hệ thống tự hành, phối hợp nhiều robot, tích hợp cảm biến và AI cho các phương tiện không người lái. Việc kết hợp các nhóm nghiên cứu về hệ thống nhúng, điện tử và viễn thông cũng cho phép phát triển UAV theo hướng liên ngành.Tuy nhiên, làm chủ UAV không đồng nghĩa với việc phải tự sản xuất ngay tất cả cấu phần của một thiết bị bay.Trong số các công nghệ được ưu tiên có dẫn đường trong môi trường tín hiệu GNSS không ổn định hoặc không khả dụng; phối hợp nhiều UAV khi truyền thông bị hạn chế; xử lý AI ngay trên thiết bị bay (Edge AI); và các giải pháp truyền thông tin cậy.Đây là nền tảng cho các ứng dụng dân sự như giám sát hạ tầng, quan trắc môi trường, nông nghiệp thông minh và tìm kiếm cứu nạn.Khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra thực địaMột trong những vấn đề lớn của nghiên cứu UAV nằm ở bước chuyển từ nguyên mẫu sang một hệ thống có khả năng vận hành ổn định trong điều kiện thực tế.Bài toán không chỉ nằm ở thuật toán. Một số cấu phần công nghệ cao vẫn phải dựa vào nguồn cung bên ngoài.Một UAV hoàn chỉnh đồng thời là bài toán liên ngành, từ cơ khí, khí động học đến điện tử, điều khiển, phần mềm nhúng, truyền thông và AI. Điều này đặt ra yêu cầu khác đối với đào tạo nhân lực.PTIT vì vậy định hướng tăng cường đào tạo thông qua dự án, đưa sinh viên đến gần hơn với phòng thí nghiệm, doanh nghiệp và các bài toán ứng dụng, đồng thời chú trọng năng lực kiểm thử, bảo đảm an toàn và phát triển sản phẩm bên cạnh kiến thức lý thuyết.Hướng phát triển trong tương laiTrong 5-10 năm tới, theo TS. Phạm Hoàng Anh, hướng đi phù hợp là tập trung vào một số công nghệ lõi gắn với thế mạnh hiện có của PTIT, đồng thời xây dựng năng lực thiết kế, tích hợp, kiểm thử và chuyển giao.Trước hết là điều khiển và dẫn đường tự chủ, nhất là trong môi trường phức tạp hoặc không có tín hiệu GNSS tin cậy. Các nội dung trọng tâm gồm hợp nhất cảm biến, định vị và lập bản đồ đồng thời (SLAM), nhận thức môi trường, lập kế hoạch chuyển động và điều khiển thích nghi. Tiếp theo là hệ thống nhúng, cảm biến và AI trên thiết bị bay.Hướng ưu tiên thứ ba là truyền thông và phối hợp nhiều UAV. Với thế mạnh viễn thông của Học viện, các nhóm nghiên cứu có thể phát triển mạng truyền thông cho phương tiện tự hành, thuật toán điều phối nhiều UAV, phân chia nhiệm vụ và duy trì hoạt động khi chất lượng liên lạc suy giảm.Song song với đó là mô phỏng, bản sao số (Digital Twin), kiểm thử và bảo đảm an toàn hệ thống. Đây được xem là cầu nối từ kết quả nghiên cứu tới sản phẩm có thể triển khai, giúp giảm chi phí thử nghiệm, phát hiện sớm lỗi và đánh giá hệ thống trong những tình huống khó tái hiện ngoài thực địa.Về nhân lực, TS. Phạm Hoàng Anh cho rằng cần phát triển đội ngũ kỹ sư có nền tảng liên ngành, khả năng làm việc theo dự án và kinh nghiệm triển khai trên thiết bị thật. Việc gắn đào tạo với phòng thí nghiệm, đề tài nghiên cứu, doanh nghiệp và hợp tác quốc tế sẽ tạo điều kiện hình thành lực lượng có khả năng thiết kế, phát triển và nâng cấp các nền tảng UAV, thay vì chỉ khai thác thiết bị có sẵn.
https://kevesko.vn/20260925/nga-va-viet-nam-dat-thoa-thuan-mo-rong-van-tai-hang-khong-toi-105-chuyen-bay-moi-ben-44282573.html
https://kevesko.vn/20260922/viet---nga-thuc-day-hop-tac-khoa-hoc---cong-nghe-di-vao-thuc-chat-44229111.html
https://kevesko.vn/20260924/nga---viet-cung-di-toi-cong-nghe-loi-bang-lien-minh-chien-luoc-44265893.html
https://kevesko.vn/20260916/carl-thayer-noi-ve-chuyen-tham-cua-ong-to-lam-nga-co-cong-nghe-viet-nam-dang-can-44174164.html
https://kevesko.vn/20260924/llvt-nga-danh-trung-co-so-san-xuat-linh-kien-uav-va-to-hop-robot-mat-dat-tai-kiev-44266025.html
https://kevesko.vn/20241220/phuc-vu-cho-ca-dan-va-quan-su-uav-cua-nga-se-giup-viet-nam-bao-ve-toan-lanh-tho-33668281.html
https://kevesko.vn/20260925/bo-ngoai-giao-lb-nga-viet-nam-va-trung-quoc-da-ung-ho-nga-dam-nhiem-vai-tro-chu-tich-apec-nam-2035-44285115.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e9/08/1a/37911005_107:0:1814:1280_1920x0_80_0_0_3c35d7ef9249fc282129fa6a5d6247c3.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
tác giả, quan điểm-ý kiến, hợp tác nga-việt, uav, viễn thông, đại học, đào tạo, hàng không, vũ trụ
tác giả, quan điểm-ý kiến, hợp tác nga-việt, uav, viễn thông, đại học, đào tạo, hàng không, vũ trụ
Hợp tác UAV Việt - Nga: Khởi đầu từ những "mảnh ghép" công nghệ lõi
Làm chủ UAV không nhất thiết phải bắt đầu từ việc tự sản xuất mọi linh kiện. Khi Việt Nam hướng tới làm chủ thiết kế hệ thống, thuật toán cốt lõi và năng lực tích hợp, thế mạnh của Nga về hàng không – vũ trụ, khí động học, thiết kế phương tiện bay, điều khiển và dẫn đường có thể trở thành những “mảnh ghép” bổ trợ cho quá trình này.
Trao đổi với Sputnik, TS. Phạm Hoàng Anh, Trưởng Lab Phương tiện tự hành và Hệ thống thông minh (AViS Lab), Khoa Kỹ thuật điện tử 1, Học viện Công nghệ bưu chính Viễn thông (PTIT), cho biết Học viện đang xúc tiến trao đổi với một số đối tác, trường đại học tại Nga để tìm kiếm cơ hội hợp tác trong nghiên cứu và đào tạo, trong đó có UAV và các hệ thống tự hành thông minh.
Khi thế mạnh công nghệ Việt – Nga gặp nhau
Theo TS. Phạm Hoàng Anh, ngay tại Bộ môn Điều khiển và Tự động hóa, một số giảng viên từng học tập, nghiên cứu và tốt nghiệp tiến sĩ tại Nga. Nền tảng chuyên môn, sự am hiểu môi trường học thuật và các mối liên hệ sẵn có là tiền đề thuận lợi để thúc đẩy hợp tác trong thời gian tới. Ông cho rằng thế mạnh của hai bên có tính bổ trợ.
“Phía Nga có truyền thống nghiên cứu về hàng không – vũ trụ, khí động học, thiết kế phương tiện bay, lý thuyết điều khiển và hệ thống dẫn đường. Những lĩnh vực này có thể bổ trợ cho thế mạnh của PTIT về điện tử, viễn thông, hệ thống nhúng, AI và công nghệ tự hành”, TS. Phạm Hoàng Anh chỉ ra.
Cũng theo ông Hoàng Anh, sự kết hợp này mở ra khả năng nghiên cứu từ thiết kế phương tiện bay đến các hệ thống điều khiển và xử lý thông minh trên phương tiện.
“Các hình thức hợp tác có thể triển khai từng bước, từ hội thảo khoa học, trao đổi giảng viên và nghiên cứu sinh đến xây dựng nhóm nghiên cứu chung và thực hiện các đề tài UAV phục vụ mục đích dân sự. Về lâu dài, định hướng là thúc đẩy phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ UAV tại Việt Nam”, chuyên gia đề xuất.
Làm chủ UAV không nhất thiết phải tự sản xuất mọi linh kiện
Tại PTIT, hướng nghiên cứu UAV được xây dựng trên nền tảng thế mạnh của Học viện về điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, điều khiển tự động và trí tuệ nhân tạo.
“PTIT có lợi thế trong các lĩnh vực điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, điều khiển tự động và trí tuệ nhân tạo. Trên cơ sở đó, Học viện tập trung phát triển những khâu có hàm lượng công nghệ cao trong chuỗi giá trị UAV, đặc biệt là điều khiển và dẫn đường tự chủ, tích hợp cảm biến, truyền thông, xử lý dữ liệu và ứng dụng AI”, TS. Phạm Hoàng Anh cho biết.
Tại Bộ môn Điều khiển và Tự động hóa và AViS Lab, các hướng đang được thúc đẩy gồm hệ thống tự hành, phối hợp nhiều robot, tích hợp cảm biến và AI cho các phương tiện không người lái. Việc kết hợp các nhóm nghiên cứu về hệ thống nhúng, điện tử và viễn thông cũng cho phép phát triển UAV theo hướng liên ngành.
Tuy nhiên, làm chủ UAV không đồng nghĩa với việc phải tự sản xuất ngay tất cả cấu phần của một thiết bị bay.
“Định hướng trong thời gian tới là từng bước làm chủ thiết kế hệ thống, các thuật toán cốt lõi và năng lực tích hợp, thay vì đặt mục tiêu tự sản xuất ngay toàn bộ linh kiện”, TS. Phạm Hoàng Anh nhận định.
Trong số các công nghệ được ưu tiên có dẫn đường trong môi trường tín hiệu GNSS không ổn định hoặc không khả dụng; phối hợp nhiều UAV khi truyền thông bị hạn chế; xử lý AI ngay trên thiết bị bay (Edge AI); và các giải pháp truyền thông tin cậy.
Đây là nền tảng cho các ứng dụng dân sự như giám sát hạ tầng, quan trắc môi trường, nông nghiệp thông minh và tìm kiếm cứu nạn.
Khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra thực địa
Một trong những vấn đề lớn của nghiên cứu UAV nằm ở bước chuyển từ nguyên mẫu sang một hệ thống có khả năng vận hành ổn định trong điều kiện thực tế.
“Một trong những thách thức lớn nhất là khoảng cách giữa nguyên mẫu hoạt động tốt trong phòng thí nghiệm và hệ thống có thể vận hành ổn định, an toàn ngoài thực địa. UAV thực tế phải ứng phó với gió, nhiễu cảm biến, suy giảm hoặc mất tín hiệu định vị, gián đoạn truyền thông, giới hạn năng lượng và những tình huống khó dự đoán. Vì vậy, kết quả thuật toán trong mô phỏng cần được kiểm chứng qua quy trình tích hợp, thử nghiệm và đánh giá độ tin cậy một cách nghiêm ngặt”, TS. Phạm Hoàng Anh chỉ ra.
Bài toán không chỉ nằm ở thuật toán. Một số cấu phần công nghệ cao vẫn phải dựa vào nguồn cung bên ngoài.
“Bên cạnh đó, một số cấu phần công nghệ cao, chẳng hạn cảm biến chuyên dụng, bộ xử lý và các thành phần của hệ thống bay, vẫn phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Việc tiếp cận thiết bị đo kiểm, hạ tầng thử nghiệm bay, kinh phí vận hành và điều kiện bảo đảm an toàn cũng là những rào cản đối với hoạt động nghiên cứu dài hạn”, ông cho biết thêm.
Một UAV hoàn chỉnh đồng thời là bài toán liên ngành, từ cơ khí, khí động học đến điện tử, điều khiển, phần mềm nhúng, truyền thông và AI. Điều này đặt ra yêu cầu khác đối với đào tạo nhân lực.
“Thách thức không chỉ nằm ở việc đào tạo chuyên gia từng lĩnh vực mà còn ở năng lực phối hợp liên ngành để thiết kế, tích hợp và hoàn thiện một hệ thống thực tế”, ông Hoàng Anh nhấn mạnh.
PTIT vì vậy định hướng tăng cường đào tạo thông qua dự án, đưa sinh viên đến gần hơn với phòng thí nghiệm, doanh nghiệp và các bài toán ứng dụng, đồng thời chú trọng năng lực kiểm thử, bảo đảm an toàn và phát triển sản phẩm bên cạnh kiến thức lý thuyết.

20 Tháng Mười Hai 2024, 10:44
Hướng phát triển trong tương lai
Trong 5-10 năm tới, theo TS. Phạm Hoàng Anh, hướng đi phù hợp là tập trung vào một số công nghệ lõi gắn với thế mạnh hiện có của PTIT, đồng thời xây dựng năng lực thiết kế, tích hợp, kiểm thử và chuyển giao.
Trước hết là điều khiển và dẫn đường tự chủ, nhất là trong môi trường phức tạp hoặc không có tín hiệu GNSS tin cậy. Các nội dung trọng tâm gồm hợp nhất cảm biến, định vị và lập bản đồ đồng thời (SLAM), nhận thức môi trường, lập kế hoạch chuyển động và điều khiển thích nghi. Tiếp theo là hệ thống nhúng, cảm biến và AI trên thiết bị bay.
“Khả năng xử lý trực tiếp dữ liệu camera, LiDAR và các cảm biến khác giúp UAV ra quyết định nhanh hơn, giảm sự phụ thuộc vào kết nối liên tục với máy chủ và tăng tính tự chủ khi thực hiện nhiệm vụ”, ông Hoàng Anh chỉ ra.
Hướng ưu tiên thứ ba là truyền thông và phối hợp nhiều UAV. Với thế mạnh viễn thông của Học viện, các nhóm nghiên cứu có thể phát triển mạng truyền thông cho phương tiện tự hành, thuật toán điều phối nhiều UAV, phân chia nhiệm vụ và duy trì hoạt động khi chất lượng liên lạc suy giảm.
Song song với đó là mô phỏng, bản sao số (Digital Twin), kiểm thử và bảo đảm an toàn hệ thống. Đây được xem là cầu nối từ kết quả nghiên cứu tới sản phẩm có thể triển khai, giúp giảm chi phí thử nghiệm, phát hiện sớm lỗi và đánh giá hệ thống trong những tình huống khó tái hiện ngoài thực địa.
Về nhân lực, TS. Phạm Hoàng Anh cho rằng cần phát triển đội ngũ kỹ sư có nền tảng liên ngành, khả năng làm việc theo dự án và kinh nghiệm triển khai trên thiết bị thật. Việc gắn đào tạo với phòng thí nghiệm, đề tài nghiên cứu, doanh nghiệp và hợp tác quốc tế sẽ tạo điều kiện hình thành lực lượng có khả năng thiết kế, phát triển và nâng cấp các nền tảng UAV, thay vì chỉ khai thác thiết bị có sẵn.
“Làm chủ công nghệ UAV vì vậy không chỉ là chế tạo được một thiết bị bay, mà còn là làm chủ tri thức, thuật toán, kiến trúc hệ thống và quy trình công nghệ để chủ động tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của Việt Nam”, TS. Phạm Hoàng Anh kết luận.