https://kevesko.vn/20261010/du-lich-viet-nam-dong-khach-nhung-lam-sao-thu-them-ty-usd-44495565.html
Du lịch Việt Nam: Đông khách, nhưng làm sao thu thêm tỷ USD?
Du lịch Việt Nam: Đông khách, nhưng làm sao thu thêm tỷ USD?
Sputnik Việt Nam
Đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế trong 9 tháng, du lịch Việt Nam còn nhiều dư địa tăng nguồn thu ngoại tệ nếu kéo dài thời gian lưu trú, nâng chi tiêu và kết... 10.10.2026, Sputnik Việt Nam
2026-10-10T19:40+0700
2026-10-10T19:40+0700
2026-10-10T19:40+0700
việt nam
du lịch
bộ tài chính vn
xã hội
gdp
kinh tế
đông nam á
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e6/0a/03/18264987_0:107:2048:1259_1920x0_80_0_0_d8702cb811fdf4f137953b6fcafa32b1.jpg
Khách đến đông, nguồn thu chưa tương xứngTheo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 9 tháng đầu năm đạt 17,7 triệu lượt, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Kết quả này mở ra cơ hội tăng nguồn thu, nhưng cũng đặt ra câu hỏi: Mỗi lượt khách đang tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế?Trao đổi với báo Dân trí, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, dẫn số liệu năm 2025 cho thấy Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, trong khi số lượt người Việt ra nước ngoài khoảng 6,7 triệu. Tuy nhiên, nguồn thu từ dịch vụ du lịch quốc tế đạt khoảng 15,22 tỷ USD, còn khoản chi cho du lịch ở nước ngoài lên tới 14,74 tỷ USD.Dù lượng khách quốc tế đến Việt Nam cao hơn ba lần số lượt người Việt xuất cảnh, chênh lệch thu, chi chỉ khoảng 480 triệu USD. Tạm tính theo lượt, mỗi khách quốc tế mang lại bình quân khoảng 718 USD, trong khi mỗi lượt người Việt ra nước ngoài chi khoảng 2.200 USD, cao hơn ba lần.Ông Tuấn lưu ý đây chỉ là phép tính minh họa, bởi số liệu xuất nhập cảnh và cán cân thanh toán không hoàn toàn đồng nhất về phạm vi. Dù vậy, khoảng cách lớn vẫn cho thấy Việt Nam thu hút nhiều khách nhưng mức chi tiêu bình quân còn thấp, trong khi người Việt đi nước ngoài ít hơn song chi nhiều hơn đáng kể.Theo ông, khả năng tăng nguồn thu phụ thuộc nhiều vào thời gian lưu trú, mức chi tiêu và tỷ lệ giá trị giữ lại trong nước. Nếu khách đến đông nhưng ở ngắn ngày, ít mua sắm, còn thị trường thiếu sản phẩm giải trí, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, thể thao và dịch vụ cao cấp, doanh thu sẽ khó tăng tương xứng với lượng khách.Thặng dư du lịch và giá trị thực sự giữ lạiTrong 9 tháng, xuất khẩu dịch vụ du lịch ước đạt 13,06 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ và chiếm 50% tổng xuất khẩu dịch vụ. Nhập khẩu dịch vụ du lịch giảm 2,2%, còn 10,85 tỷ USD, tạo thặng dư khoảng 2,21 tỷ USD.Đóng góp này có ý nghĩa trong bối cảnh toàn bộ lĩnh vực dịch vụ nhập siêu 8,21 tỷ USD, còn hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD trong cùng kỳ. Riêng tháng 9, cán cân hàng hóa đã chuyển sang xuất siêu 1,27 tỷ USD sau nhiều tháng nhập siêu liên tiếp. Tuy nhiên, kết quả xuất, nhập khẩu chưa trả lời đầy đủ câu hỏi nền kinh tế giữ lại được bao nhiêu giá trị.Ông Nguyễn Quốc Kỳ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vietravel, nhìn nhận du lịch là ngành xuất khẩu tại chỗ, thu ngoại tệ khi khách quốc tế sử dụng dịch vụ tại Việt Nam. Một bữa ăn, một đêm nghỉ ở khách sạn, một sản phẩm thủ công hay một vé xem biểu diễn đều tạo doanh thu cho các chủ thể trong nước. Khi chuỗi cung ứng được tổ chức tốt, khoản chi của khách có thể trở thành thu nhập của người lao động, đơn hàng của nông dân, doanh thu của doanh nghiệp và nguồn lực bảo tồn di sản. Đây là cơ sở kinh tế để đầu tư du lịch như một ngành mũi nhọn.Để đánh giá đúng đóng góp ấy, cần phân biệt phạm vi thống kê. Theo nguyên tắc quốc tế, chi tiêu tại Việt Nam của người không cư trú được ghi nhận vào xuất khẩu dịch vụ du lịch; chi tiêu ở nước ngoài của người cư trú thuộc nhập khẩu tương ứng. Căn cứ phân loại là nơi cư trú, không đơn thuần là quốc tịch. Vận tải hành khách quốc tế được hạch toán riêng trong dịch vụ vận tải, nên không thể gộp toàn bộ tiền tour hay vé máy bay thành một khoản xuất khẩu du lịch.Thặng dư 2,21 tỷ USD vì vậy mới là số dư của một nhóm giao dịch dịch vụ, chưa phản ánh toàn bộ ngoại tệ giữ lại. Việc tính toán còn phải xét đầu vào nhập khẩu, phí dịch vụ và thu nhập chuyển ra nước ngoài, đồng thời tránh tính trùng. Du lịch đóng góp vào tài khoản vãng lai, còn kết quả chung của cán cân thanh toán phụ thuộc cả các giao dịch thu nhập và dòng vốn.Tương tự, tổng thu du lịch 873 nghìn tỷ đồng trong 9 tháng phản ánh chi tiêu của cả khách nội địa lẫn quốc tế, không phải toàn bộ doanh thu ngoại tệ hay giá trị tăng thêm của ngành trong GDP. Muốn xác định đóng góp trực tiếp vào GDP, phải loại trừ chi phí trung gian và làm rõ phần hoạt động thực sự phục vụ khách du lịch qua hệ thống tài khoản phù hợp.Biến lợi thế điểm đến thành sức muaTheo ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, Việt Nam đã từ vị trí thứ 5 vươn lên nhóm 3 điểm đến thu hút khách hàng đầu Đông Nam Á, đồng thời liên tục được vinh danh ở các hạng mục “Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới”, “Điểm đến hàng đầu châu Á”. Lợi thế thương hiệu này cần được chuyển hóa thành doanh thu, việc làm, đầu tư và sức mua cho nền kinh tế.Dư địa tăng thu có thể thấy qua một giả định: Nếu Việt Nam đạt mục tiêu 25 triệu lượt khách quốc tế và mỗi lượt chi thêm 100 USD cho sản phẩm, dịch vụ do đơn vị cư trú cung cấp tại Việt Nam, doanh thu tăng thêm có thể đạt 2,5 tỷ USD. Dù còn phải trừ chi phí và đánh giá phần giá trị trong nước, con số này cho thấy nâng chi tiêu trên mỗi chuyến đi có ý nghĩa kinh tế đáng kể.Muốn vậy, du lịch cần kết nối sâu hơn với bán lẻ và tiêu dùng, đưa mua sắm trở thành một phần của trải nghiệm văn hóa. Hàng tiêu dùng cần có câu chuyện riêng, sản phẩm địa phương cần bước vào những không gian mua sắm hiện đại, để hành trình của khách tiếp tục ở nhà hàng, cửa hàng, trung tâm outlet, siêu thị, không gian văn hóa và trong những sản phẩm họ mang về nước. Hiệu quả du lịch khi đó còn được thể hiện qua giá trị mỗi triệu lượt khách tạo ra và số ngành kinh tế cùng hưởng lợi.Trong những tháng cuối năm, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, ngành cũng cần thu hút thêm nhu cầu quốc tế, tận dụng công suất dịch vụ sẵn có và mở rộng đơn hàng trong nước. Theo ông Kỳ, bán thêm một phòng khách sạn, khai thác hiệu quả hơn một chuyến xe hay thu hút thêm khán giả cho chương trình biểu diễn đều có thể tăng doanh thu mà không phải xây mới toàn bộ hạ tầng. Lợi ích sẽ lớn hơn khi doanh nghiệp mua thực phẩm, sản phẩm và dịch vụ từ nhà cung cấp Việt Nam, đồng thời nâng năng suất và thu nhập của người lao động.Với thị trường nội địa, du lịch thúc đẩy tiêu dùng và phân phối thu nhập giữa các vùng. Chi tiêu của người cư trú khi đi du lịch trong nước không được tính là xuất khẩu quốc tế, nhưng sản phẩm đủ hấp dẫn có thể khiến người dân lựa chọn thay cho chuyến đi nước ngoài, qua đó hạn chế chi tiêu ở bên ngoài. Tác động thay thế này cần được đo lường.Để nâng giá trị mỗi chuyến đi, ông Kỳ đề xuất tổ chức lại xúc tiến du lịch quốc gia với đầu mối điều phối, ngân sách và kế hoạch theo từng thị trường, trong đó hiệu quả phải được đo bằng lượng khách đến, số đêm lưu trú và doanh thu tăng thêm có thể kiểm chứng. Thị trường ưu tiên cần phù hợp với sản phẩm, khả năng kết nối và mục tiêu thu hút khách ở dài ngày, chi tiêu cao, đồng thời đa dạng hóa nguồn khách. Ngân sách nên phân bổ theo kết quả và cơ hội thị trường; doanh nghiệp tham gia cần cam kết năng lực bán, chất lượng phục vụ và cung cấp dữ liệu để đánh giá hiệu quả.
https://kevesko.vn/20261006/viet-nam-dan-dau-ve-toc-do-tang-truong-luong-khach-du-lich-tu-nga-44416554.html
https://kevesko.vn/20260927/du-lich-viet-nam-but-7-bac-tren-bang-xep-hang-the-gioi-44293153.html
đông nam á
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07e6/0a/03/18264987_114:0:1935:1366_1920x0_80_0_0_453f42a0b76d2d8d267d48dd1320d996.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
việt nam, du lịch, bộ tài chính vn, xã hội, gdp, kinh tế, đông nam á
việt nam, du lịch, bộ tài chính vn, xã hội, gdp, kinh tế, đông nam á
Khách đến đông, nguồn thu chưa tương xứng
Theo Cục Thống kê (
Bộ Tài chính), lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong 9 tháng đầu năm đạt 17,7 triệu lượt, tăng 14,5% so với cùng kỳ. Kết quả này mở ra cơ hội tăng nguồn thu, nhưng cũng đặt ra câu hỏi: Mỗi lượt khách đang tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế?
Trao đổi với báo Dân trí, ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, dẫn số liệu năm 2025 cho thấy Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, trong khi số lượt người Việt ra nước ngoài khoảng 6,7 triệu. Tuy nhiên, nguồn thu từ dịch vụ du lịch quốc tế đạt khoảng 15,22 tỷ USD, còn khoản chi cho du lịch ở nước ngoài lên tới 14,74 tỷ USD.
Dù lượng khách quốc tế đến Việt Nam cao hơn ba lần số lượt người Việt xuất cảnh, chênh lệch thu, chi chỉ khoảng 480 triệu USD. Tạm tính theo lượt, mỗi khách quốc tế mang lại bình quân khoảng 718 USD, trong khi mỗi lượt người Việt ra nước ngoài chi khoảng 2.200 USD, cao hơn ba lần.
Ông Tuấn lưu ý đây chỉ là phép tính minh họa, bởi số liệu xuất nhập cảnh và cán cân thanh toán không hoàn toàn đồng nhất về phạm vi. Dù vậy, khoảng cách lớn vẫn cho thấy Việt Nam thu hút nhiều khách nhưng mức chi tiêu bình quân còn thấp, trong khi người Việt đi nước ngoài ít hơn song chi nhiều hơn đáng kể.
Theo ông, khả năng tăng nguồn thu phụ thuộc nhiều vào thời gian lưu trú, mức chi tiêu và tỷ lệ giá trị giữ lại trong nước. Nếu khách đến đông nhưng ở ngắn ngày, ít mua sắm, còn thị trường thiếu sản phẩm giải trí, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, thể thao và dịch vụ cao cấp, doanh thu sẽ khó tăng tương xứng với lượng khách.
Thặng dư du lịch và giá trị thực sự giữ lại
Trong 9 tháng, xuất khẩu dịch vụ du lịch ước đạt 13,06 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ và chiếm 50% tổng xuất khẩu dịch vụ. Nhập khẩu dịch vụ du lịch giảm 2,2%, còn 10,85 tỷ USD, tạo thặng dư khoảng 2,21 tỷ USD.
Đóng góp này có ý nghĩa trong bối cảnh toàn bộ lĩnh vực dịch vụ nhập siêu 8,21 tỷ USD, còn hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD trong cùng kỳ. Riêng tháng 9, cán cân hàng hóa đã chuyển sang xuất siêu 1,27 tỷ USD sau nhiều tháng nhập siêu liên tiếp. Tuy nhiên, kết quả xuất, nhập khẩu chưa trả lời đầy đủ câu hỏi nền kinh tế giữ lại được bao nhiêu giá trị.
Ông Nguyễn Quốc Kỳ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Vietravel, nhìn nhận du lịch là ngành xuất khẩu tại chỗ, thu ngoại tệ khi khách quốc tế sử dụng dịch vụ tại
Việt Nam. Một bữa ăn, một đêm nghỉ ở khách sạn, một sản phẩm thủ công hay một vé xem biểu diễn đều tạo doanh thu cho các chủ thể trong nước. Khi chuỗi cung ứng được tổ chức tốt, khoản chi của khách có thể trở thành thu nhập của người lao động, đơn hàng của nông dân, doanh thu của doanh nghiệp và nguồn lực bảo tồn di sản. Đây là cơ sở kinh tế để đầu tư du lịch như một ngành mũi nhọn.
Để đánh giá đúng đóng góp ấy, cần phân biệt phạm vi thống kê. Theo nguyên tắc quốc tế, chi tiêu tại Việt Nam của người không cư trú được ghi nhận vào xuất khẩu dịch vụ du lịch; chi tiêu ở nước ngoài của người cư trú thuộc nhập khẩu tương ứng. Căn cứ phân loại là nơi cư trú, không đơn thuần là quốc tịch. Vận tải hành khách quốc tế được hạch toán riêng trong dịch vụ vận tải, nên không thể gộp toàn bộ tiền tour hay vé máy bay thành một khoản xuất khẩu du lịch.
Thặng dư 2,21 tỷ USD vì vậy mới là số dư của một nhóm giao dịch dịch vụ, chưa phản ánh toàn bộ ngoại tệ giữ lại. Việc tính toán còn phải xét đầu vào nhập khẩu, phí dịch vụ và thu nhập chuyển ra nước ngoài, đồng thời tránh tính trùng. Du lịch đóng góp vào tài khoản vãng lai, còn kết quả chung của cán cân thanh toán phụ thuộc cả các giao dịch thu nhập và dòng vốn.
Tương tự, tổng thu du lịch 873 nghìn tỷ đồng trong 9 tháng phản ánh chi tiêu của cả khách nội địa lẫn quốc tế, không phải toàn bộ doanh thu ngoại tệ hay giá trị tăng thêm của ngành trong GDP. Muốn xác định đóng góp trực tiếp vào GDP, phải loại trừ chi phí trung gian và làm rõ phần hoạt động thực sự phục vụ khách du lịch qua hệ thống tài khoản phù hợp.
Biến lợi thế điểm đến thành sức mua
Theo ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, Việt Nam đã từ vị trí thứ 5 vươn lên nhóm 3 điểm đến thu hút khách hàng đầu
Đông Nam Á, đồng thời liên tục được vinh danh ở các hạng mục “Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới”, “Điểm đến hàng đầu châu Á”. Lợi thế thương hiệu này cần được chuyển hóa thành doanh thu, việc làm, đầu tư và sức mua cho nền kinh tế.
Dư địa tăng thu có thể thấy qua một giả định: Nếu Việt Nam đạt mục tiêu 25 triệu lượt khách quốc tế và mỗi lượt chi thêm 100 USD cho sản phẩm, dịch vụ do đơn vị cư trú cung cấp tại Việt Nam, doanh thu tăng thêm có thể đạt 2,5 tỷ USD. Dù còn phải trừ chi phí và đánh giá phần giá trị trong nước, con số này cho thấy nâng chi tiêu trên mỗi chuyến đi có ý nghĩa kinh tế đáng kể.
Muốn vậy, du lịch cần kết nối sâu hơn với bán lẻ và tiêu dùng, đưa mua sắm trở thành một phần của trải nghiệm văn hóa. Hàng tiêu dùng cần có câu chuyện riêng, sản phẩm địa phương cần bước vào những không gian mua sắm hiện đại, để hành trình của khách tiếp tục ở nhà hàng, cửa hàng, trung tâm outlet, siêu thị, không gian văn hóa và trong những sản phẩm họ mang về nước. Hiệu quả du lịch khi đó còn được thể hiện qua giá trị mỗi triệu lượt khách tạo ra và số ngành kinh tế cùng hưởng lợi.
Trong những tháng cuối năm, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, ngành cũng cần thu hút thêm nhu cầu quốc tế, tận dụng công suất dịch vụ sẵn có và mở rộng đơn hàng trong nước. Theo ông Kỳ, bán thêm một phòng khách sạn, khai thác hiệu quả hơn một chuyến xe hay thu hút thêm khán giả cho chương trình biểu diễn đều có thể tăng doanh thu mà không phải xây mới toàn bộ hạ tầng. Lợi ích sẽ lớn hơn khi doanh nghiệp mua thực phẩm, sản phẩm và dịch vụ từ nhà cung cấp Việt Nam, đồng thời nâng năng suất và thu nhập của người lao động.
Với thị trường nội địa, du lịch thúc đẩy tiêu dùng và phân phối thu nhập giữa các vùng. Chi tiêu của người cư trú khi đi du lịch trong nước không được tính là xuất khẩu quốc tế, nhưng sản phẩm đủ hấp dẫn có thể khiến người dân lựa chọn thay cho chuyến đi nước ngoài, qua đó hạn chế chi tiêu ở bên ngoài. Tác động thay thế này cần được đo lường.
Để nâng giá trị mỗi chuyến đi, ông Kỳ đề xuất tổ chức lại xúc tiến du lịch quốc gia với đầu mối điều phối, ngân sách và kế hoạch theo từng thị trường, trong đó hiệu quả phải được đo bằng lượng khách đến, số đêm lưu trú và doanh thu tăng thêm có thể kiểm chứng. Thị trường ưu tiên cần phù hợp với sản phẩm, khả năng kết nối và mục tiêu thu hút khách ở dài ngày, chi tiêu cao, đồng thời đa dạng hóa nguồn khách. Ngân sách nên phân bổ theo kết quả và cơ hội thị trường; doanh nghiệp tham gia cần cam kết năng lực bán, chất lượng phục vụ và cung cấp dữ liệu để đánh giá hiệu quả.