https://kevesko.vn/20260702/trung-quoc-o-at-xoa-bo-hang-loat-nganh-hoc-bai-toan-dat-ra-cho-giao-duc-viet-nam-trong-ky-nguyen-ai-43186183.html
Trung Quốc ồ ạt xóa bỏ hàng loạt ngành học: Bài toán đặt ra cho giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên AI
Trung Quốc ồ ạt xóa bỏ hàng loạt ngành học: Bài toán đặt ra cho giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên AI
Sputnik Việt Nam
Giáo dục Trung Quốc đang bước vào một cuộc cải tổ lớn khi hàng nghìn chương trình đào tạo truyền thống bị cắt giảm hoặc đóng cửa để ưu tiên AI và các lĩnh vực... 02.07.2026, Sputnik Việt Nam
2026-07-02T07:29+0700
2026-07-02T07:29+0700
2026-07-02T07:29+0700
việt nam
tác giả
quan điểm-ý kiến
giáo dục
khoa học
công nghệ
đào tạo
bộ giáo dục và đào tạo
nhân sự
ai
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/02/06/41160350_0:16:820:477_1920x0_80_0_0_fc6c22ef5a93c21ee1556df650e060f3.jpg
Trung Quốc ồ ạt xóa bỏ hàng loạt ngành họcHệ thống giáo dục đại học Trung Quốc đang trải qua một đợt "thanh lọc" quy mô lớn chưa từng có.Khoảng 12.000 ngành học thuộc các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học xã hội - nhân văn, ngoại ngữ và quản trị đang bị mạnh tay cắt giảm hoặc thu hẹp do không còn phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động hiện đại, nơi tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên dưới tác động của công nghệ vẫn đang ở mức trên 16%.Thay vào đó, Bắc Kinh ưu tiên dồn nguồn lực cho AI, bán dẫn và đặc biệt là trí tuệ hiện thân, lĩnh vực tích hợp AI thế hệ mới vào nền kinh tế thực thông qua robot và tự động hóa.Nhận định với Sputnik, Tiến sĩ Lê Thị Quỳnh Nga (Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, động thái của Trung Quốc không chỉ là câu chuyện "cắt ngành - mở ngành", mà là sự điều chỉnh chiến lược nhằm giải quyết đồng thời ba vấn đề: Thứ nhất, AI thay đổi cấu trúc việc làm. Thứ hai, tăng trưởng kinh tế chậm lại khiến số lượng việc làm chất lượng cao giảm. Thứ ba, đại học phải phục vụ chiến lược công nghiệp quốc gia.Việt Nam có thừa cử nhân, thiếu nhân lực công nghệ?Nhìn sang Việt Nam, bức tranh thị trường lao động cũng đang bộc lộ những chỉ dấu bất ổn tương tự. Tình trạng tăng trưởng “nóng” ở một số nhóm ngành thời thượng dẫn đến hệ quả sinh viên ra trường chật vật tìm việc, trong khi các lĩnh vực mũi nhọn như chip bán dẫn, dữ liệu lớn, tự động hóa và AI lại lâm vào cảnh khát nhân lực trầm trọng.Việt Nam hoàn toàn không nằm ngoài vùng ảnh hưởng của làn sóng chuyển dịch này và có nguy cơ đối mặt với tình trạng “thừa cử nhân, thiếu nhân lực công nghệ chất lượng cao” trong 5-10 năm tới.Theo bà Nga, ở góc độ ‘thừa cử nhân’, thực chất Việt Nam không thừa theo nghĩa tuyệt đối, mà chính xác là thừa cử nhân không có kỹ năng đáp ứng nhu cầu mới.Nhìn vào số lượng người có bằng đại học cho thấy, Việt Nam không thiếu, số người tốt nghiệp đại học ngày càng tăng, nhưng doanh nghiệp vẫn kêu khó tuyển được người đáp ứng nhu cầu công việc.Ngược lại, ở chiều “thiếu”, thị trường Việt Nam dự kiến cần khoảng 3 triệu nhân lực thuộc các lĩnh vực AI, dữ liệu, bán dẫn, an ninh mạng và điện toán đám mây vào năm 2030. Trong khi, hiện nay chỉ có khoảng 30% sinh viên công nghệ tốt nghiệp được đánh giá là có thể làm việc được ngay.Thế nhưng, rào cản lớn nhất hiện nay là chất lượng khi chỉ có khoảng 30% sinh viên ngành công nghệ tốt nghiệp được đánh giá là có thể làm việc được ngay mà không cần đào tạo lại.Sự mất cân đối giữa quy mô đào tạo và nhu cầu thực tế tại Việt Nam là có thật. Việc mở ngành học hiện nay ở nhiều trường đại học vẫn mang tính tự phát, chạy theo thị hiếu tuyển sinh ngắn hạn thay vì dựa trên các phân tích khoa học về động thái kinh tế vĩ mô.Chuyển từ "ngành cứng" sang "tổ hợp năng lực liên ngành"Nói về thách thức lớn nhất của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, chuyên gia cho rằng, đó không hẳn là việc thiếu người học hay thiếu giảng viên, mà là tư duy đào tạo theo "ngành" quá cứng nhắc, trong khi doanh nghiệp lại tuyển dụng dựa trên "năng lực thực tế".Bà Nga nêu ví dụ, một kỹ sư không thể chỉ biết viết code, họ họ phải sở hữu năng lực quản lý dự án, ngoại ngữ, giao tiếp. Ngược lại, một giáo viên cũng cần được trang bị năng lực sử dụng AI, thiết kế học liệu, phân tích dữ liệu học tập, hiểu tâm lý học sinh. Cũng giống như một bác sĩ sẽ cần năng lực sử dụng AI, khai thác dữ liệu và công nghệ y tế…Đồng thời, mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp phải được định nghĩa lại theo hướng thay đổi tư duy. Theo TS. Lê Thị Quỳnh Nga, việc các trường mời doanh nghiệp góp ý chương trình đào tạo vài năm một lần là đúng, nhưng chưa đủ trước tốc độ thay đổi của kỷ nguyên AI.Không thể xóa bỏ cực đoanLiệu Việt Nam có nên chủ động đóng cửa các ngành xã hội, nhân văn và nghệ thuật có tỷ lệ việc làm thấp như Trung Quốc để dồn tiền đề cho công nghệ, TS. Lê Thị Quỳnh Nga khuyến nghị một cách tiếp cận thận trọng và dài hạn hơn:Theo TS. Nga, lịch sử giáo dục Việt Nam từng chứng kiến những làn sóng dư thừa phân khúc phổ thông sau các chu kỳ tăng trưởng nóng của ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng hay gần đây là Thương mại điện tử.Một thực tế khác là ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác hiện nay cũng đã xuất hiện dấu hiệu cạnh tranh rất cao ở các vị trí công nghệ cơ bản, trong khi doanh nghiệp lại thiếu các chuyên gia có năng lực sâu hoặc hiểu biết liên ngành.Và để không lặp lại những vết xe đổ đó, TS. Lê Thị Quỳnh Nga cho rằng giáo dục đại học Việt Nam cần một tư duy quy hoạch hoàn toàn mới, bắt đầu từ việc xóa bỏ thói quen dự báo nhu cầu nhân lực bằng cảm tính.Trong cuộc đua này, vị chuyên gia từ Đại học Quốc gia Hà Nội cũng lưu ý, không nên chạy theo cơn sốt AI một cách mù quáng, mà cốt lõi là phải đào tạo khả năng cộng tác với AI.Sự bùng nổ của công nghệ đang khiến việc dự báo chính xác nghề nghiệp nào sẽ tồn tại trở nên bất khả thi. Minh chứng rõ nhất là Prompt Engineer (Kỹ sư viết câu lệnh), một công việc từng được ca ngợi là "nghề tương lai" nhưng đã nhanh chóng bị chính AI tự động hóa phần lớn chỉ sau một thời gian ngắn.Ngược lại, những ngành truyền thống như y tế, giáo dục, kế toán hay luật sẽ không biến mất, nhưng phương thức vận hành đã thay đổi tận gốc rễ.Hệ quả tất yếu của chiến lược này là chương trình đào tạo bắt buộc phải dịch chuyển trọng tâm, đổ dồn nguồn lực vào những nhóm năng lực cốt lõi mà máy móc không thể sao chép.Cuộc "đại phẫu" giáo dục mang tính báo động đỏ tại Trung Quốc không đơn thuần là một câu chuyện của quốc gia láng giềng Việt Nam.Thời gian không còn nhiều cho những chuyển dịch mang tính thử nghiệm. Nếu không sớm loại bỏ mô hình học thuật khép kín để xây dựng một hệ sinh thái đào tạo mở, bắt kịp hơi thở của nền kinh tế số, Việt Nam có thể sẽ tự đánh mất lợi thế cạnh tranh trong chuỗi phân công lao động toàn cầu mới.Bởi lẽ, cuộc đua cấu trúc lại nguồn nhân lực trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo không có chỗ cho những quốc gia chậm chân.
https://kevesko.vn/20260629/ha-noi-se-la-cai-noi-san-sinh-ra-cac-cong-ty-cong-nghe-tri-gia-hang-ty-usd-43152713.html
https://kevesko.vn/20260204/viet-nam-se-dao-tao-10000-chuyen-gia-an-ninh-mang-41093333.html
https://kevesko.vn/20260627/dung-thu-hai-dong-nam-a-ve-su-dung-ai-viet-nam-dang-tan-dung-het-loi-the-43118232.html
https://kevesko.vn/20260618/viet-nam-hop-tac-voi-nga-ve-ai-cong-nghe-luong-tu-va-ve-tinh-tam-thap-43017875.html
https://kevesko.vn/20260522/thu-truong-nga-ky-vong-the-he-tre-viet-nam-hieu-nga-tu-som-de-thanh-doi-tac-tin-cay-trong-tuong-lai-42670031.html
trung quốc
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/02/06/41160350_53:0:781:546_1920x0_80_0_0_210ffd0939e9a1d905e926e34de9dced.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
việt nam, tác giả, quan điểm-ý kiến, giáo dục, khoa học, công nghệ, đào tạo, bộ giáo dục và đào tạo, nhân sự, ai, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp, đại học, trung quốc
việt nam, tác giả, quan điểm-ý kiến, giáo dục, khoa học, công nghệ, đào tạo, bộ giáo dục và đào tạo, nhân sự, ai, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp, đại học, trung quốc
Trung Quốc ồ ạt xóa bỏ hàng loạt ngành học
Hệ thống giáo dục đại học Trung Quốc đang trải qua một đợt "thanh lọc" quy mô lớn chưa từng có.
Khoảng 12.000 ngành học thuộc các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học xã hội - nhân văn, ngoại ngữ và quản trị đang bị mạnh tay cắt giảm hoặc thu hẹp do không còn phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động hiện đại, nơi tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên dưới tác động của công nghệ vẫn đang ở mức trên 16%.
Thay vào đó, Bắc Kinh ưu tiên dồn nguồn lực cho AI, bán dẫn và đặc biệt là trí tuệ hiện thân, lĩnh vực tích hợp AI thế hệ mới vào nền kinh tế thực thông qua robot và tự động hóa.
Nhận định với Sputnik, Tiến sĩ Lê Thị Quỳnh Nga (Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, động thái của
Trung Quốc không chỉ là câu chuyện "cắt ngành - mở ngành", mà là sự điều chỉnh chiến lược nhằm giải quyết đồng thời ba vấn đề:
Thứ nhất, AI thay đổi cấu trúc việc làm. Thứ hai, tăng trưởng kinh tế chậm lại khiến số lượng việc làm chất lượng cao giảm. Thứ ba, đại học phải phục vụ chiến lược công nghiệp quốc gia.
Việt Nam có thừa cử nhân, thiếu nhân lực công nghệ?
Nhìn sang Việt Nam, bức tranh thị trường lao động cũng đang bộc lộ những chỉ dấu bất ổn tương tự. Tình trạng tăng trưởng “nóng” ở một số nhóm ngành thời thượng dẫn đến hệ quả sinh viên ra trường chật vật tìm việc, trong khi các lĩnh vực mũi nhọn như chip bán dẫn, dữ liệu lớn, tự động hóa và AI lại lâm vào cảnh khát nhân lực trầm trọng.
“Việt Nam hiện chưa ở mức độ quyết liệt như Trung Quốc, nhưng trong bối cảnh AI đã và đang tác động tới thị trường lao động trên toàn thế giới, chứ không riêng gì Trung Quốc. Việt Nam cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng đó. Vì vậy, có thể nói rằng Việt Nam cũng có nguy cơ rơi vào tình trạng “thừa cử nhân, thiếu nhân lực công nghệ”, Tiến sĩ Lê Thị Quỳnh Nga cho hay.
Việt Nam hoàn toàn không nằm ngoài vùng ảnh hưởng của làn sóng chuyển dịch này và có nguy cơ đối mặt với tình trạng “thừa cử nhân, thiếu nhân lực công nghệ chất lượng cao” trong 5-10 năm tới.
Theo bà Nga, ở góc độ ‘thừa cử nhân’, thực chất Việt Nam không thừa theo nghĩa tuyệt đối, mà chính xác là thừa cử nhân không có kỹ năng đáp ứng nhu cầu mới.
Nhìn vào số lượng người có bằng đại học cho thấy, Việt Nam không thiếu, số người tốt nghiệp đại học ngày càng tăng, nhưng doanh nghiệp vẫn kêu khó tuyển được người đáp ứng nhu cầu công việc.
“Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Một là, đào tạo chưa theo kịp nhu cầu thị trường, chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, trong khi doanh nghiệp cần người có năng lực thực hành với nhiều kĩ năng đa dạng như: biết sử dụng AI, biết phân tích dữ liệu, biết làm việc đa ngành, biết quản lý dự án, biết giải quyết vấn đề, biết giao tiếp linh hoạt. Hai là, AI đang làm giảm nhu cầu tuyển dụng ở một số vị trí đầu vào đơn giản. Ví dụ một nhân viên biết khai thác AI có thể đảm nhiệm khối lượng công việc của 2-3 người trước đây, dẫn đến vị trí dành cho sinh viên mới tốt nghiệp giảm. Ba là, quy mô đào tạo ở một số ngành hiện nay đang vượt nhu cầu thị trường”.
Ngược lại, ở chiều “thiếu”, thị trường Việt Nam dự kiến cần khoảng 3 triệu nhân lực thuộc các lĩnh vực AI, dữ liệu, bán dẫn, an ninh mạng và điện toán đám mây vào năm 2030. Trong khi, hiện nay chỉ có khoảng 30% sinh viên công nghệ tốt nghiệp được đánh giá là có thể làm việc được ngay.
“Ở góc độ “thiếu nhân lực công nghệ”, tôi muốn nhấn mạnh rằng, Việt Nam đang “thiếu nhân lực công nghệ chất lượng cao”. Vì Việt Nam không thiếu nhân lực công nghệ mà thiếu nhân lực công nghệ đạt trình độ doanh nghiệp cần”, TS. Nga phân tích hai mặt của bài toán nhân lực.
Thế nhưng, rào cản lớn nhất hiện nay là chất lượng khi chỉ có khoảng 30% sinh viên ngành công nghệ tốt nghiệp được đánh giá là có thể làm việc được ngay mà không cần đào tạo lại.
Sự mất cân đối giữa quy mô đào tạo và nhu cầu thực tế tại Việt Nam là có thật. Việc mở ngành học hiện nay ở nhiều trường đại học vẫn mang tính tự phát, chạy theo thị hiếu tuyển sinh ngắn hạn thay vì dựa trên các phân tích khoa học về động thái kinh tế vĩ mô.
Chuyển từ "ngành cứng" sang "tổ hợp năng lực liên ngành"
Nói về thách thức lớn nhất của giáo dục đại học Việt Nam hiện nay, chuyên gia cho rằng, đó không hẳn là việc thiếu người học hay thiếu giảng viên, mà là tư duy đào tạo theo "ngành" quá cứng nhắc, trong khi doanh nghiệp lại tuyển dụng dựa trên "năng lực thực tế".
“Đó chính là lý do Trung Quốc ồ ạt xóa bỏ hàng loạt ngành học. Tuy nhiên, tôi cho rằng Việt Nam không nên xóa bỏ ngành học, mà phải phải đào tạo liên ngành và thay đổi cách đào tạo. Chúng ta cần chú trọng đào tạo các năng lực mà doanh nghiệp cần và năng lực thích ứng với một thị trường lao động liên tục thay đổi hơn là một chương trình đào tạo chỉ dựa trên truyền thống học thuật. Để thu hẹp khoảng cách này trong kỉ nguyên AI, các chương trình đào tạo nên chuyển từ đào tạo kiến thức chuyên môn theo ngành cứng sang đào tạo liên ngành, đồng thời chú trọng đào tạo theo “tổ hợp năng lực”, trong đó bên cạnh năng lực chuyên môn còn có những năng lực bổ trợ khác”, chuyên gia chia sẻ quan điểm.
Bà Nga nêu ví dụ, một kỹ sư không thể chỉ biết viết code, họ họ phải sở hữu năng lực quản lý dự án, ngoại ngữ, giao tiếp. Ngược lại, một giáo viên cũng cần được trang bị năng lực sử dụng AI, thiết kế học liệu, phân tích dữ liệu học tập, hiểu tâm lý học sinh. Cũng giống như một bác sĩ sẽ cần năng lực sử dụng AI, khai thác dữ liệu và công nghệ y tế…
Đồng thời, mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp phải được định nghĩa lại theo hướng thay đổi tư duy. Theo TS. Lê Thị Quỳnh Nga, việc các trường mời doanh nghiệp góp ý chương trình đào tạo vài năm một lần là đúng, nhưng chưa đủ trước tốc độ thay đổi của kỷ nguyên AI.
“Doanh nghiệp không chỉ là “nhà tham vấn” cho nhà trường, mà phải trở thành “nhà đồng kiến tạo”, đồng hành với nhà trường trong suốt quá trình đào tạo. Nghĩa là doanh nghiệp nên được tham gia ngay từ đầu vào các khâu của quá trình đào tạo: xác định chuẩn đầu ra, xây dựng học phần, tham gia đào tạo, hướng dẫn đồ án, khóa luận tốt nghiệp, đánh giá sinh viên, tiếp nhận thực tập và tuyển dụng. Chỉ có như vậy, chương trình đào tạo mới phản ánh sát hơn nhu cầu thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp”, Tiến sĩ Lê Thị Quỳnh Nga khẳng định với Sputnik.
Không thể xóa bỏ cực đoan
Liệu Việt Nam có nên chủ động đóng cửa các ngành xã hội, nhân văn và nghệ thuật có tỷ lệ việc làm thấp như Trung Quốc để dồn tiền đề cho công nghệ, TS. Lê Thị Quỳnh Nga khuyến nghị một cách tiếp cận thận trọng và dài hạn hơn:
“AI làm thay đổi cách hành nghề chứ không xóa bỏ nhu cầu về các lĩnh vực xã hội, nhân văn hay nghệ thuật. Trong kỷ nguyên máy móc, giá trị của con người sẽ dịch chuyển mạnh mẽ sang tư duy phản biện, sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp và tương tác xã hội. Nếu chúng ta ồ ạt cắt giảm và chạy theo cơn sốt AI một cách cực đoan, Việt Nam có thể lặp lại chu kỳ ‘thừa ngành hot’ sau vài năm”.
Theo TS. Nga, lịch sử giáo dục Việt Nam từng chứng kiến những làn sóng dư thừa phân khúc phổ thông sau các chu kỳ tăng trưởng nóng của ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng hay gần đây là Thương mại điện tử.
Một thực tế khác là ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác hiện nay cũng đã xuất hiện dấu hiệu cạnh tranh rất cao ở các vị trí công nghệ cơ bản, trong khi doanh nghiệp lại thiếu các chuyên gia có năng lực sâu hoặc hiểu biết liên ngành.
“Nếu Việt Nam tập trung ưu tiên vào phát triển nguồn nhân lực công nghệ như Trung Quốc, đất nước có thể lặp lại chu kì “thừa ngành hot” sau vài năm”, chuyên gia nhấn mạnh.
Và để không lặp lại những vết xe đổ đó, TS. Lê Thị Quỳnh Nga cho rằng giáo dục đại học Việt Nam cần một tư duy quy hoạch hoàn toàn mới, bắt đầu từ việc xóa bỏ thói quen dự báo nhu cầu nhân lực bằng cảm tính.
“Thực tế hiện nay nhiều quyết định mở hoặc đóng ngành vẫn dựa nhiều vào đề xuất của từng trường hoặc nhu cầu tuyển sinh. Cách làm này sẽ dẫn đến trình trạng chu kỳ “thừa ngành hot” như tôi đã đề cập ở trên, và các trường sẽ có độ trễ nhất định trong việc điều chỉnh quy mô đào tạo khi thị trường thay đổi. Vì thế, thay vì dựa vào chỉ tiêu tuyển sinh cảm tính như trên, việc quy hoạch cần dựa trên việc tích hợp các dữ liệu thị trường lao động theo thời gian thực, bao gồm: tuyển dụng doanh nghiệp, tiền lương, tỉ lệ có việc làm sau tốt nghiệp, xu hướng đầu tư, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch nhân khẩu học…”.
Trong cuộc đua này, vị chuyên gia từ Đại học Quốc gia Hà Nội cũng lưu ý, không nên chạy theo cơn sốt AI một cách mù quáng, mà cốt lõi là phải đào tạo khả năng cộng tác với AI.
Sự bùng nổ của công nghệ đang khiến việc dự báo chính xác nghề nghiệp nào sẽ tồn tại trở nên bất khả thi. Minh chứng rõ nhất là Prompt Engineer (Kỹ sư viết câu lệnh), một công việc từng được ca ngợi là "nghề tương lai" nhưng đã nhanh chóng bị chính AI tự động hóa phần lớn chỉ sau một thời gian ngắn.
Ngược lại, những ngành truyền thống như y tế,
giáo dục, kế toán hay luật sẽ không biến mất, nhưng phương thức vận hành đã thay đổi tận gốc rễ.
“Một giáo viên biết thiết kế bài giảng bằng AI chắc chắn sẽ có lợi thế hơn người chỉ dạy theo lối truyền thống, một kế toán biết phân tích dữ liệu và tự động hóa quy trình sẽ giá trị hơn người chỉ thuần thục nghiệp vụ thủ công. Nói một cách khác, việc đào tạo nhân lực vừa hiểu lĩnh vực chuyên môn, vừa biết ứng dụng AI để tạo ra giá trị mới sẽ có lợi thế cạnh tranh dài hạn hơn”, bà Nga phân tích.
Hệ quả tất yếu của chiến lược này là chương trình đào tạo bắt buộc phải dịch chuyển trọng tâm, đổ dồn nguồn lực vào những nhóm năng lực cốt lõi mà máy móc không thể sao chép.
“Các chương trình đào tạo cần chú trọng vào các năng lực khó bị AI thay thế. Nếu AI ngày càng giỏi ở các công việc lặp lại và xử lý thông tin, thì có những năng lực khó bị AI thay thế như: tư duy phản biện, sáng tạo, lãnh đạo, làm việc nhóm, giao tiếp, … Đây chính là “lợi thế cạnh tranh của con người”. Đồng thời chương trình đào tạo cần trang bị cho người học năng lực học tập suốt đời và năng lực thích ứng với sự thay đổi, nhờ vào đó người học sẽ không sợ phải đối diện với sự thay thế của AI”.
Cuộc "đại phẫu" giáo dục mang tính báo động đỏ tại Trung Quốc không đơn thuần là một câu chuyện của quốc gia láng giềng Việt Nam.
Thời gian không còn nhiều cho những chuyển dịch mang tính thử nghiệm. Nếu không sớm loại bỏ mô hình học thuật khép kín để xây dựng một hệ sinh thái đào tạo mở, bắt kịp hơi thở của nền kinh tế số,
Việt Nam có thể sẽ tự đánh mất lợi thế cạnh tranh trong chuỗi phân công lao động toàn cầu mới.
Bởi lẽ, cuộc đua cấu trúc lại nguồn nhân lực trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo không có chỗ cho những quốc gia chậm chân.