https://kevesko.vn/20260627/dung-thu-hai-dong-nam-a-ve-su-dung-ai-viet-nam-dang-tan-dung-het-loi-the-43118232.html
Đứng thứ hai Đông Nam Á về sử dụng AI, Việt Nam đang tận dụng hết lợi thế?
Đứng thứ hai Đông Nam Á về sử dụng AI, Việt Nam đang tận dụng hết lợi thế?
Sputnik Việt Nam
Việt Nam đứng thứ hai Đông Nam Á về mức độ phổ cập trí tuệ nhân tạo (AI), trong khi 39% lao động tri thức được khảo sát thuộc nhóm sử dụng AI thành thạo nhất... 27.06.2026, Sputnik Việt Nam
2026-06-27T08:30+0700
2026-06-27T08:30+0700
2026-06-27T08:30+0700
quan điểm-ý kiến
tác giả
trí tuệ nhân tạo
ai
an ninh mạng
nhân sự
người lao động
doanh nghiệp
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/06/1a/43119835_0:148:2835:1743_1920x0_80_0_0_0c1db3d3a922fd24df953cc0fa2c45ce.jpg
Theo Báo cáo Mức độ ứng dụng AI toàn cầu quý I/2026 của Microsoft, 26,5% dân số Việt Nam trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã sử dụng ít nhất một sản phẩm AI tạo sinh.Tỷ lệ này tăng từ 21,2% trong nửa đầu năm 2025 lên 23,5% trong nửa cuối năm, trước khi tăng thêm 3 điểm phần trăm trong quý I/2026. Việt Nam hiện đứng thứ hai Đông Nam Á, sau Singapore, và thấp hơn Mỹ 4,8 điểm phần trăm.Tuy nhiên, con số 26,5% phản ánh mức độ phổ cập AI trong dân số, không phải tỷ lệ doanh nghiệp đã đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh hay quản trị.Người lao động đi trước hệ thốngKhoảng cách này thể hiện rõ trong Báo cáo Chỉ số Xu hướng Công việc 2026 của Microsoft Việt Nam, được xây dựng từ khảo sát 2.000 lao động tri thức tại Việt Nam và dữ liệu năng suất ẩn danh trên Microsoft 365.Theo báo cáo, 39% người tham gia được xếp vào nhóm “Nhân sự Tiên phong về AI”, cao nhất ASEAN và vượt xa mức trung bình toàn cầu 16%. AI không còn chỉ được dùng cho những thao tác hành chính đơn giản, mà đã đi vào các công việc như phân tích thông tin, xử lý vấn đề, đánh giá phương án và phát triển ý tưởng.Có 76% người dùng AI tại Việt Nam cho biết công nghệ đã giúp họ tạo ra những sản phẩm hoặc kết quả mà một năm trước chưa thể thực hiện. Điều này cho thấy người lao động đã bắt đầu thay đổi cách làm việc, thay vì chỉ làm quen với một công cụ mới.Ông Dhanawat Suthumpun, Giám đốc điều hành Microsoft Thái Lan và các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, nhận định trong báo cáo:Nhiều doanh nghiệp vẫn dừng ở thử nghiệmTheo Báo cáo Thực trạng ứng dụng AI và xu hướng tuyển dụng nhân sự công nghệ thông tin tại Việt Nam năm 2025 của ITviec, 73% doanh nghiệp tham gia khảo sát đã tích hợp AI dưới một hình thức nào đó. Tuy nhiên, chỉ 13,8% cho biết đã triển khai ở quy mô lớn hoặc đưa công nghệ vào vận hành đầy đủ.Khảo sát được thực hiện với 846 lãnh đạo, quản lý nhân sự, quản lý tuyển dụng và chuyên gia công nghệ tại Việt Nam. Do giới hạn về quy mô và thành phần mẫu, kết quả không đại diện cho toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp, nhưng phần nào cho thấy AI hiện chủ yếu vẫn xuất hiện ở một số phòng ban hoặc dự án riêng lẻ.Có 46,4% doanh nghiệp cho biết thiếu kỹ năng AI trong nội bộ, trong khi 41% gặp khó khăn khi tuyển nhân sự có kinh nghiệm triển khai thực tế.Khoảng cách đầu tư cũng đáng chú ý. Trong 12 tháng tiếp theo, 48,8% doanh nghiệp dự kiến đưa AI vào sản phẩm, dịch vụ hoặc hoạt động tiếp xúc với khách hàng. Trong khi đó, chỉ 18,6% ưu tiên cải thiện hạ tầng dữ liệu và 7% có kế hoạch tăng cường quản trị AI, quản lý rủi ro.Tuy nhiên, đây lại là những yếu tố quyết định hiệu quả triển khai. Dữ liệu phân tán, thiếu cập nhật hoặc không thống nhất sẽ làm giảm độ tin cậy của kết quả do AI tạo ra. Nếu không có quy trình kiểm tra, một câu trả lời sai có thể đi thẳng vào báo cáo, hợp đồng hoặc quyết định kinh doanh.Khi AI vào công việc trước quy địnhTheo Báo cáo Chỉ số Xu hướng Công việc 2024 của Microsoft và LinkedIn tại Việt Nam, 70% người dùng AI tại Việt Nam sử dụng công cụ cá nhân trong công việc.Việc nhân viên tự lựa chọn công cụ giúp rút ngắn thời gian xử lý công việc, nhưng cũng làm tăng nguy cơ dữ liệu khách hàng, hợp đồng và tài liệu nội bộ bị đưa lên những nền tảng nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp.Sức ép từ AI cũng đang lan sang thị trường lao động. Theo báo cáo Generative AI and Jobs in Viet Nam của Tổ chức Lao động Quốc tế, khoảng 20,8% việc làm tại Việt Nam, tương đương 11,5 triệu lao động, thuộc nhóm có khả năng chịu tác động từ AI tạo sinh.Theo chuyên gia trên, “chịu tác động” không đồng nghĩa với mất việc. Trong nhiều trường hợp, một phần nhiệm vụ sẽ được tự động hóa, còn nội dung công việc và yêu cầu kỹ năng sẽ thay đổi.Điều đó cũng có nghĩa đào tạo AI không thể chỉ dừng ở cách sử dụng chatbot hay viết câu lệnh. Người lao động cần biết đánh giá nguồn tin, kiểm tra kết quả, phân tích dữ liệu và nhận diện giới hạn của công nghệ.Việt Nam cần làm gì?Tỷ lệ phổ cập cao cho thấy Việt Nam có lợi thế về khả năng tiếp nhận công nghệ. Tuy nhiên, số người dùng AI không tự động chuyển thành năng suất, tài sản công nghệ hay giá trị xuất khẩu.Trong cuộc phỏng vấn với VnExpress ngày 16/6, Chủ tịch FPT Trương Gia Bình cho rằng Việt Nam không nên cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn công nghệ lớn trong cuộc đua xây dựng mô hình nền tảng đòi hỏi nguồn vốn hàng tỷ USD.Theo hướng này, cơ hội của Việt Nam nằm ở việc đưa AI vào các bài toán cụ thể trong sản xuất, tài chính, logistics, y tế, giáo dục, nông nghiệp và thương mại.Lợi thế cạnh tranh không nằm ở số nhân viên biết sử dụng chatbot, mà ở khả năng kết hợp công nghệ với dữ liệu chuyên ngành, kinh nghiệm thị trường và quy trình riêng của từng doanh nghiệp.Để làm được điều đó, thị trường vẫn cần kỹ sư dữ liệu, chuyên gia học máy, kiến trúc sư hệ thống, nhân sự an ninh mạng và đội ngũ quản lý hiểu đồng thời công nghệ và hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu lớp nhân lực này, doanh nghiệp có thể sử dụng AI thường xuyên nhưng vẫn phụ thuộc vào nền tảng bên ngoài, khó kiểm soát dữ liệu và khó hình thành tài sản công nghệ riêng.Việt Nam đã có một lực lượng lao động sẵn sàng thử nghiệm và học nhanh. Bước tiếp theo là đưa những thử nghiệm riêng lẻ vào một hệ thống có thể kiểm soát, đo lường và mở rộng. Doanh nghiệp nào làm được việc đó sớm hơn sẽ có cơ hội biến tốc độ phổ cập AI thành lợi thế cạnh tranh thực sự.
https://kevesko.vn/20260624/khoa-hoc-truc-tiep-cua-du-an-sputnikpro-ai-quy-tu-cac-nha-bao-tu-ba-chau-luc-tai-moskva-43079536.html
https://kevesko.vn/20260618/viet-nam-hop-tac-voi-nga-ve-ai-cong-nghe-luong-tu-va-ve-tinh-tam-thap-43017875.html
https://kevesko.vn/20260604/chuyen-gia-the-gioi-can-mot-to-chuc-de-quan-ly-rui-ro-lien-quan-den-ai-42830937.html
https://kevesko.vn/20260526/chuyen-gia-nga-noi-ve-vu-khi-bi-mat-cua-toa-soan-trong-thoi-dai-ai-42711672.html
https://kevesko.vn/20260505/viet-nam-muon-gom-chuyen-gia-ai-toan-cau-de-giai-bai-toan-quoc-gia-42431972.html
https://kevesko.vn/20260321/viet-nam-trien-khai-luat-ai-buoc-di-tien-phong-trong-cuoc-dua-chua-co-chuan-chung-41828164.html
https://kevesko.vn/20260512/chinh-phu-viet-nam-chuan-bi-dua-ai-va-tro-ly-ao-vao-xu-ly-thu-tuc-cho-nguoi-dan-42523059.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/06/1a/43119835_158:0:2678:1890_1920x0_80_0_0_2d42435afbc42c8254d82f850c446d34.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
quan điểm-ý kiến, tác giả, trí tuệ nhân tạo, ai, an ninh mạng, nhân sự, người lao động, doanh nghiệp
quan điểm-ý kiến, tác giả, trí tuệ nhân tạo, ai, an ninh mạng, nhân sự, người lao động, doanh nghiệp
Theo Báo cáo Mức độ ứng dụng AI toàn cầu quý I/2026 của Microsoft, 26,5% dân số Việt Nam trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã sử dụng ít nhất một sản phẩm AI tạo sinh.
Tỷ lệ này tăng từ 21,2% trong nửa đầu năm 2025 lên 23,5% trong nửa cuối năm, trước khi tăng thêm 3 điểm phần trăm trong quý I/2026. Việt Nam hiện đứng thứ hai
Đông Nam Á, sau Singapore, và thấp hơn Mỹ 4,8 điểm phần trăm.
Tuy nhiên, con số 26,5% phản ánh mức độ phổ cập AI trong dân số, không phải tỷ lệ doanh nghiệp đã đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh hay quản trị.
Người lao động đi trước hệ thống
Khoảng cách này thể hiện rõ trong Báo cáo Chỉ số Xu hướng Công việc 2026 của Microsoft Việt Nam, được xây dựng từ khảo sát 2.000 lao động tri thức tại Việt Nam và dữ liệu năng suất ẩn danh trên Microsoft 365.
Theo báo cáo, 39% người tham gia được xếp vào nhóm “Nhân sự Tiên phong về AI”, cao nhất
ASEAN và vượt xa mức trung bình toàn cầu 16%. AI không còn chỉ được dùng cho những thao tác hành chính đơn giản, mà đã đi vào các công việc như phân tích thông tin, xử lý vấn đề, đánh giá phương án và phát triển ý tưởng.
“Người lao động có thể tiếp cận và học cách sử dụng một công cụ AI trong thời gian rất ngắn, nhưng doanh nghiệp không thể chuyển đổi với tốc độ tương tự. Tổ chức còn phải chuẩn hóa dữ liệu, điều chỉnh quy trình, phân quyền truy cập và xác định trách nhiệm đối với kết quả do AI hỗ trợ”, chuyên gia phân tích thị trường Lưu Hiền nhận định với Sputnik.
Có 76% người dùng AI tại Việt Nam cho biết công nghệ đã giúp họ tạo ra những sản phẩm hoặc kết quả mà một năm trước chưa thể thực hiện. Điều này cho thấy người lao động đã bắt đầu thay đổi cách làm việc, thay vì chỉ làm quen với một công cụ mới.
Ông Dhanawat Suthumpun, Giám đốc điều hành Microsoft Thái Lan và các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, nhận định trong báo cáo:
“Công nghệ không thể tự tạo ra sự chuyển đổi. Khi người lao động ngày càng thành thạo và chủ động khai thác các năng lực mới do AI mang lại, các nhà lãnh đạo cần đảm bảo rằng hệ thống vận hành và cách thức quản trị cũng được đổi mới tương ứng để theo kịp tốc độ thay đổi đó”.
Nhiều doanh nghiệp vẫn dừng ở thử nghiệm
Theo Báo cáo Thực trạng ứng dụng AI và xu hướng tuyển dụng nhân sự công nghệ thông tin tại Việt Nam năm 2025 của ITviec, 73% doanh nghiệp tham gia khảo sát đã tích hợp AI dưới một hình thức nào đó. Tuy nhiên, chỉ 13,8% cho biết đã triển khai ở quy mô lớn hoặc đưa công nghệ vào vận hành đầy đủ.
Khảo sát được thực hiện với 846 lãnh đạo, quản lý nhân sự, quản lý tuyển dụng và chuyên gia công nghệ tại
Việt Nam. Do giới hạn về quy mô và thành phần mẫu, kết quả không đại diện cho toàn bộ cộng đồng doanh nghiệp, nhưng phần nào cho thấy AI hiện chủ yếu vẫn xuất hiện ở một số phòng ban hoặc dự án riêng lẻ.
Có 46,4% doanh nghiệp cho biết thiếu kỹ năng AI trong nội bộ, trong khi 41% gặp khó khăn khi tuyển nhân sự có kinh nghiệm triển khai thực tế.
Khoảng cách đầu tư cũng đáng chú ý. Trong 12 tháng tiếp theo, 48,8% doanh nghiệp dự kiến đưa AI vào sản phẩm, dịch vụ hoặc hoạt động tiếp xúc với khách hàng. Trong khi đó, chỉ 18,6% ưu tiên cải thiện hạ tầng dữ liệu và 7% có kế hoạch tăng cường quản trị AI, quản lý rủi ro.
“Sự chênh lệch này cho thấy nhiều doanh nghiệp đang quan tâm đến “bề nổi” của AI như chatbot, tạo nội dung hoặc tự động hóa dịch vụ, trong khi hạ tầng dữ liệu và cơ chế kiểm soát chưa được đầu tư tương xứng”, chuyên gia phân tích thị trường Lưu Hiền cho biết.
Tuy nhiên, đây lại là những yếu tố quyết định hiệu quả triển khai. Dữ liệu phân tán, thiếu cập nhật hoặc không thống nhất sẽ làm giảm độ tin cậy của kết quả do AI tạo ra. Nếu không có quy trình kiểm tra, một câu trả lời sai có thể đi thẳng vào báo cáo, hợp đồng hoặc quyết định kinh doanh.
“Một doanh nghiệp có nhiều nhân viên sử dụng chatbot chưa hẳn đã có năng lực AI. Khác biệt nằm ở khả năng biến những thử nghiệm riêng lẻ thành quy trình chung, có thể kiểm soát, đo lường và mở rộng”, ông Lưu Hiền nhận định.
Khi AI vào công việc trước quy định
Theo Báo cáo Chỉ số Xu hướng Công việc 2024 của Microsoft và LinkedIn tại Việt Nam, 70% người dùng AI tại Việt Nam sử dụng công cụ cá nhân trong công việc.
Việc nhân viên tự lựa chọn công cụ giúp rút ngắn thời gian xử lý công việc, nhưng cũng làm tăng nguy cơ dữ liệu khách hàng, hợp đồng và tài liệu nội bộ bị đưa lên những nền tảng nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp.
“Chúng ta phải hiểu rằng, bài toán không nằm ở việc cấm nhân viên sử dụng AI. Doanh nghiệp cần xác định rõ công cụ nào được chấp nhận, loại dữ liệu nào không được đưa lên hệ thống công cộng, đầu ra nào bắt buộc phải có người kiểm tra và bộ phận nào chịu trách nhiệm khi xảy ra sai sót”, ông Lưu Hiền chỉ ra.
Sức ép từ AI cũng đang lan sang thị trường lao động. Theo báo cáo Generative AI and Jobs in Viet Nam của Tổ chức Lao động Quốc tế, khoảng 20,8% việc làm tại Việt Nam, tương đương 11,5 triệu lao động, thuộc nhóm có khả năng chịu tác động từ AI tạo sinh.
Theo chuyên gia trên, “chịu tác động” không đồng nghĩa với mất việc. Trong nhiều trường hợp, một phần nhiệm vụ sẽ được tự động hóa, còn nội dung
công việc và yêu cầu kỹ năng sẽ thay đổi.
Điều đó cũng có nghĩa đào tạo AI không thể chỉ dừng ở cách sử dụng chatbot hay viết câu lệnh. Người lao động cần biết đánh giá nguồn tin, kiểm tra kết quả, phân tích dữ liệu và nhận diện giới hạn của công nghệ.
Tỷ lệ phổ cập cao cho thấy Việt Nam có lợi thế về khả năng tiếp nhận công nghệ. Tuy nhiên, số người dùng AI không tự động chuyển thành năng suất, tài sản công nghệ hay giá trị xuất khẩu.
Trong cuộc phỏng vấn với VnExpress ngày 16/6, Chủ tịch FPT Trương Gia Bình cho rằng Việt Nam không nên cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn công nghệ lớn trong cuộc đua xây dựng mô hình nền tảng đòi hỏi nguồn vốn hàng tỷ USD.
“Cơ hội của chúng ta chính là khai thác AI đó, mô hình đó như những công cụ để tạo ra trí tuệ, tài sản cho thế giới, là lĩnh vực Việt Nam có thể đua và cần đua”.
Theo hướng này, cơ hội của Việt Nam nằm ở việc đưa AI vào các bài toán cụ thể trong sản xuất, tài chính, logistics, y tế, giáo dục, nông nghiệp và thương mại.
Lợi thế cạnh tranh không nằm ở số nhân viên biết sử dụng chatbot, mà ở khả năng kết hợp công nghệ với dữ liệu chuyên ngành, kinh nghiệm thị trường và quy trình riêng của từng doanh nghiệp.
Để làm được điều đó, thị trường vẫn cần kỹ sư dữ liệu, chuyên gia học máy, kiến trúc sư hệ thống, nhân sự
an ninh mạng và đội ngũ quản lý hiểu đồng thời công nghệ và hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu lớp nhân lực này, doanh nghiệp có thể sử dụng AI thường xuyên nhưng vẫn phụ thuộc vào nền tảng bên ngoài, khó kiểm soát dữ liệu và khó hình thành tài sản công nghệ riêng.
Việt Nam đã có một lực lượng lao động sẵn sàng thử nghiệm và học nhanh. Bước tiếp theo là đưa những thử nghiệm riêng lẻ vào một hệ thống có thể kiểm soát, đo lường và mở rộng. Doanh nghiệp nào làm được việc đó sớm hơn sẽ có cơ hội biến tốc độ phổ cập AI thành lợi thế cạnh tranh thực sự.