Mỹ dùng Đạo luật Lacey, EU áp EUDR làm khó Việt Nam

© Ảnh : EIA 2025Một giám đốc công ty khai thác gỗ người Việt Nam đang đánh số các khúc gỗ
Một giám đốc công ty khai thác gỗ người Việt Nam đang đánh số các khúc gỗ - Sputnik Việt Nam, 1920, 10.07.2026
Đăng ký
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 6/2026 ước đạt 1,53 tỷ USD, nâng kim ngạch 6 tháng đầu năm lên 8,54 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, thách thức từ các thị trường chủ lực vẫn còn.

Một thay đổi nhỏ cũng tác động trực tiếp đến hàng tỷ USD

Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt mức kỷ lục 18,33 tỷ USD, riêng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 17,2 tỷ USD, tăng gần 6% so với năm 2024, đưa Việt Nam vào nhóm 5 quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất thế giới.
Hiện Việt Nam có gần 15 triệu ha rừng với tỷ lệ che phủ trên 42%, khoảng 5.000 doanh nghiệp chế biến gỗ và sản phẩm đã có mặt tại gần 170 quốc gia, vùng lãnh thổ. Dù vậy, thị phần của Việt Nam mới chiếm khoảng 7% tổng nhu cầu nhập khẩu đồ gỗ toàn cầu, trong khi quy mô thị trường thế giới lên tới khoảng 230 tỷ USD mỗi năm, cho thấy dư địa tăng trưởng vẫn còn rất lớn.
Quang cảnh toạ đàm - Sputnik Việt Nam, 1920, 23.10.2025
Thực trạng “đáng lo” của ngành gỗ Việt Nam
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm gần một nửa kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam, tiếp theo là Trung Quốc và Nhật Bản. Tuy nhiên, diễn biến tại các thị trường đang có sự phân hóa khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm, trong khi Trung Quốc và Nhật Bản vẫn tăng trưởng.
Theo Thời báo Ngân hàng dẫn phân tích của TS. Tô Xuân Phúc, chuyên gia cao cấp của Forest Trends cho biết, Hoa Kỳ hiện chiếm hơn 53% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026. Các thị trường lớn tiếp theo là Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) và Hàn Quốc. Ông lưu ý, với mức độ phụ thuộc lớn vào các thị trường này, chỉ cần một thay đổi nhỏ về quy định hay tiêu chuẩn nhập khẩu cũng có thể tác động trực tiếp đến hàng tỷ USD kim ngạch xuất khẩu của ngành.
Từ đó, TS. Tô Xuân Phúc nhấn mạnh việc chứng minh tính hợp pháp và nguồn gốc nguyên liệu hiện không còn là yêu cầu riêng của từng thị trường mà đã trở thành tiêu chuẩn chung của thương mại quốc tế. Đây là điều kiện để doanh nghiệp duy trì khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia bền vững vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ông Phùng Quốc Mẫn, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA), cũng nhận định ngành gỗ đang bước vào giai đoạn mà lợi thế cạnh tranh không còn chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm, giá thành hay năng lực sản xuất. Theo ông, các thị trường nhập khẩu ngày càng coi trọng tính hợp pháp của nguồn gỗ, khả năng truy xuất nguồn gốc, chứng chỉ quản lý rừng bền vững cũng như việc thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Vị chuyên gia khẳng định, phát triển bền vững không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chỉ những doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về minh bạch nguồn gốc và phát triển bền vững mới có thể duy trì lợi thế cạnh tranh và mở rộng thị trường.

Điểm nghẽn lớn nhất

Thông tin với TTXVN, ông Nguyễn Văn Diện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho hay, ngành gỗ Việt Nam đã tạo dựng được vị thế nhờ chủ động phát triển nguồn nguyên liệu hợp pháp, mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững và từng bước hình thành chuỗi cung ứng gỗ hợp pháp.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là nền tảng ban đầu. Hiện năng lực cạnh tranh của ngành không còn được quyết định chủ yếu bởi quy mô sản xuất hay kim ngạch xuất khẩu mà phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng bảo đảm tính minh bạch của toàn bộ chuỗi cung ứng, từ nguồn nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng. Việt Nam hiện mới có khoảng 868.000 ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo các hệ thống FSC hoặc VFCS-PEFC. Trong tổng số 920 chủ rừng là tổ chức, mới có 446 đơn vị xây dựng phương án quản lý rừng bền vững; riêng nhóm doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 34,5%.
Trong khi đó, mã số rừng trồng sản xuất mới được thí điểm trên khoảng 25.500 ha tại 5 tỉnh phía Bắc, rất nhỏ so với gần 4,9 triệu ha rừng trồng của cả nước. Đây là điểm nghẽn đáng chú ý khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh sản phẩm không có nguồn gốc từ khu vực bị phá rừng sau ngày 31/12/2020, đồng thời truy xuất đến từng lô rừng bằng dữ liệu GPS. Theo ông Diện, nhiều chủ rừng quy mô nhỏ vẫn thiếu thiết bị, hạn chế về kỹ năng số, trong khi cơ sở dữ liệu lâm nghiệp còn phân tán, chưa được kết nối đồng bộ và chưa đáp ứng yêu cầu tra cứu theo thời gian thực.
Nhà máy sản xuất gỗ xuất khẩu. - Sputnik Việt Nam, 1920, 03.04.2025
Trump "dội bom thuế": Doanh nghiệp Việt họp khẩn, ngành gỗ và dệt may đối mặt rủi ro lớn
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với Bộ Tài chính tháo gỡ vướng mắc về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm gỗ sơ chế, đồng thời hoàn thiện hướng dẫn thực hiện EUDR cho ngành gỗ và các ngành nông, lâm sản.
Song song đó, Bộ sẽ triển khai Kế hoạch quốc gia về mã số rừng trồng sản xuất giai đoạn 2026-2030, mở rộng thí điểm ra 15-20 tỉnh trọng điểm và tích hợp vào cơ sở dữ liệu rừng quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc của các thị trường nhập khẩu. Thời gian tới ngành lâm nghiệp cần tiếp tục mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững, đẩy mạnh số hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc, chủ động đáp ứng các quy định mới như EUDR của EU, Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ cùng các tiêu chuẩn về phát thải carbon.
Theo kế hoạch đến năm 2030, ngành lâm nghiệp đặt mục tiêu có 1 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững, đồng thời hoàn thiện Hệ thống thông tin truy xuất nguồn gốc gỗ (TTIS), tích hợp mã số rừng trồng, bảng kê lâm sản điện tử, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và giấy phép FLEGT để xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, kết nối dữ liệu theo thời gian thực.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала