ASEAN muốn chạm 10.000 tỷ USD: Vì sao mô hình tăng trưởng cũ không còn đủ?

© REUTERS Pool/Francis R MalasigChủ tịch ASEAN kiêm Ngoại trưởng Philippines Teresa Lazaro tiến hành cuộc tham vấn không chính thức với các Ngoại trưởng ASEAN tại Pasay, Manila, Philippines.
Chủ tịch ASEAN kiêm Ngoại trưởng Philippines Teresa Lazaro tiến hành cuộc tham vấn không chính thức với các Ngoại trưởng ASEAN tại Pasay, Manila, Philippines. - Sputnik Việt Nam, 1920, 15.08.2026
Đăng ký
Để đạt mốc GDP 10.000 tỷ USD vào năm 2035, ASEAN không thể chỉ dựa vào quy mô hay tốc độ. Đứng trước nguy cơ bẫy thu nhập trung bình và khoảng cách phát triển nội khối, khu vực buộc phải dịch chuyển mô hình tăng trưởng sang chiều sâu với động lực cốt lõi là công nghệ và năng suất.

“Bẫy thu nhập trung bình” và khoảng cách phát triển

Sau gần sáu thập niên phát triển, ASEAN đã trở thành một trong những khu vực kinh tế năng động của thế giới. Tuy nhiên, phía sau quy mô gần 700 triệu dân và GDP khoảng 4.000 tỷ USD vẫn là khoảng cách đáng kể về thu nhập, năng suất, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực giữa các thành viên.
Đây là thách thức lớn đối với mục tiêu nâng GDP của ASEAN lên 10.000 tỷ USD vào năm 2035. Khu vực không chỉ cần tăng trưởng nhanh hơn mà còn phải tạo ra giá trị gia tăng cao hơn và khai thác tốt hơn sức mạnh của thị trường nội khối.
Theo PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, sự khác biệt về trình độ phát triển đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi mô hình tăng trưởng.

“Vẫn còn sự khác biệt khá lớn về trình độ phát triển kinh tế giữa ASEAN-6 (Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Brunei) và ASEAN-5 (Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và Timor-Leste) với thu nhập bình quân chỉ bằng khoảng một nửa thu nhập bình quân ASEAN. Nguy cơ cao rơi vào bẫy thu nhập trung bình một số quốc gia cho thấy cần đổi mới mô hình phát triển từng quốc gia cùng việc triển khai cơ chế hợp tác mới về chất lượng và quy mô, giảm thiểu đầu tư chiều rộng và hướng tới chiều sâu, đổi mới sáng tạo và phát huy nguồn lực chất lượng cao”, PGS.TS. Lạng chia sẻ với Sputnik.

Nói cách khác, bài toán của ASEAN không còn đơn thuần là mở rộng quy mô sản xuất, thu hút thêm vốn hay tận dụng lợi thế lao động. Điều quan trọng hơn là nâng năng suất và đưa các nền kinh tế thành viên lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị.

Quy mô lớn nhưng sức mạnh còn phân mảnh

Từ 5 thành viên ban đầu năm 1967, ASEAN hiện có 11 thành viên. Quy mô dân số gần 700 triệu người, chiếm khoảng 9% dân số thế giới, trong khi GDP khoảng 4.000 tỷ USD, tương đương khoảng 4% GDP toàn cầu.
GDP - Sputnik Việt Nam, 1920, 13.08.2026
GDP cao gấp 4 lần Thái Lan, Việt Nam dẫn đầu nhóm 5 nền kinh tế xuất sắc nhất ASEAN
Quy mô này giúp ASEAN có vị trí ngày càng đáng kể trong thương mại, đầu tư và các chuỗi cung ứng quốc tế.

“ASEAN đã tạo được quy mô GDP chưa từng có trong gần 60 năm phát triển. Nếu Indonesia và Singapore có quy mô GDP lớn nhất lần lượt là 1.440 tỷ USD và 560 tỷ USD, thì Việt Nam có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất ASEAN là 8,02%”, chuyên gia dẫn chứng.

Mỗi nền kinh tế lại có một thế mạnh riêng. Singapore nổi bật về tài chính và logistics; Indonesia có thị trường nội địa lớn; Malaysia có nền tảng công nghiệp điện tử; Thái Lan có thế mạnh về sản xuất và du lịch; trong khi Việt Nam ngày càng nổi lên trong thương mại, sản xuất và thu hút đầu tư FDI.

“Trong nhiều năm, Singapore, Indonesia, Việt Nam được xếp vào nhóm 20 quốc gia có kim ngạch xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất thế giới. Singapore là một trong tám trung tâm tài chính và trung tâm logistics thế giới. Việt Nam đang triển khai vận hành 2 trung tâm tài chính khu vực và thế giới tại TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, đặt mục tiêu tăng trưởng liên tục 2 con số giai đoạn 2025-2030. Trong khi đó, Malaysia coi trọng phát triển kinh tế số, Thái Lan là quốc gia thu hút lớn nhất du khách quốc tế, Indonesia đặt mục tiêu lọt vào danh sách 10 quốc gia có quy mô GDP lớn nhất thế giới vào năm 2050 cho thấy quyết tâm thúc đẩy tăng trưởng không ngừng của ASEAN, củng cố vững chắc vai trò trung tâm, tăng khả năng ảnh hưởng ngày càng lớn trong nền kinh tế thế giới”, ông Lạng phân tích.

Những khác biệt này có thể trở thành lợi thế nếu các thành viên bổ trợ cho nhau trong cùng một chuỗi giá trị. Ngược lại, nếu mỗi nước chủ yếu cạnh tranh để thu hút cùng một dòng vốn hoặc cùng một dự án, lợi thế của cả khu vực sẽ bị phân tán.
Đà tăng trưởng của Việt Nam nổi bật trong bối cảnh kinh tế Đông Nam Á có sự phân hóa rõ nét - Sputnik Việt Nam, 1920, 20.07.2026
ADB: Việt Nam cần đổi mô hình tăng trưởng để tránh bẫy thu nhập trung bình
Khoảng cách phát triển, vì vậy, không chỉ là vấn đề của từng quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh chung của ASEAN.
“Thịnh vượng bao trùm vì thế phải bắt đầu từ khả năng tham gia vào tăng trưởng, chứ không chỉ từ việc phân chia thành quả tăng trưởng”, chuyên gia Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân nhìn nhận và đồng thời cảnh báo: “Khối vẫn đối mặt thách thức lớn từ sự chênh lệch trình độ phát triển giữa các nhóm nước và nguy cơ bẫy thu nhập trung bình. Điều này đòi hỏi các quốc gia thành viên và cả khu vực phải đổi mới mô hình phát triển, chuyển mạnh từ hợp tác chiều rộng sang chiều sâu dựa trên đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao”.

Liên kết nội khối chưa tương xứng với quy mô

Một nghịch lý của ASEAN là khu vực có độ mở kinh tế rất cao nhưng phần lớn thương mại và đầu tư vẫn diễn ra với bên ngoài. Theo phân tích của PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, khoảng 75% quy mô thương mại và đầu tư của ASEAN được thực hiện với phần còn lại của thế giới, trong khi khoảng 25% nằm trong nội bộ khu vực.
Thu hoạch lúa mì - Sputnik Việt Nam, 1920, 08.08.2026
Việt Nam: Dự trữ ngoại hối dưới 2 tháng nhập khẩu, tín dụng/GDP vượt 150%
ASEAN đã xây dựng một mạng lưới hiệp định và cơ chế hợp tác khá rộng, từ ATIGA, ATISA, ACIA đến các thỏa thuận công nhận lẫn nhau và RCEP. Tuy nhiên, có hiệp định chưa đồng nghĩa với một thị trường nội khối vận hành liền mạch.
Khác biệt về tiêu chuẩn, thủ tục, quy định, chứng nhận, logistics hay điều kiện tiếp cận thị trường vẫn là những rào cản đối với doanh nghiệp khi mở rộng hoạt động trong ASEAN.
“Coi trọng phát triển sâu các quan hệ thương mại và đầu tư nội bộ ASEAN, đa dạng hóa hình thức, phương thức và cơ chế hợp tác mới tinh gọn, hiệu quả, đơn giản, chuẩn hóa và bảo đảm lợi ích thỏa đáng của các bên”, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận này.
Điều đó có nghĩa, giai đoạn tới, hiệu quả hội nhập không nên chỉ được nhìn qua số lượng hiệp định mà còn phải được đo bằng việc doanh nghiệp có thể hoạt động xuyên biên giới thuận lợi đến đâu.
Ví dụ, một doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam có thể tiếp cận thị trường Indonesia dễ hơn. Một doanh nghiệp Malaysia có thể đầu tư vào Việt Nam với ít thủ tục hơn. Một chuyên gia tài chính Singapore có thể cung cấp dịch vụ xuyên biên giới thuận lợi hơn. Hay dòng vốn có thể di chuyển trong khu vực nhanh hơn.
Chính những thay đổi đó sẽ biến gần 700 triệu dân thành một thị trường kinh tế có tính thống nhất cao hơn và quyết định chất lượng hội nhập.

Các hiệp định cũ cũng cần được nâng cấp

Nền kinh tế ASEAN đang thay đổi nhanh chóng.
Khi thương mại điện tử, dữ liệu xuyên biên giới, AI, tài chính số, kinh tế xanh và các mô hình kinh doanh mới phát triển nhanh, những quy tắc được thiết kế từ 10-15 năm trước có thể không còn đủ để đáp ứng nền kinh tế mới.
“Thực tế cho thấy có sự thiếu cập nhật và lạc hậu các cam kết trong ASEAN với các đối tác khi các thỏa thuận được xây dựng trung bình 10-15 năm trước trong khi đã xuất hiện các loại cam kết mới sâu sắc, toàn diện và đầy đủ hơn từ thực tiễn quốc tế. Việc nâng cấp thể chế hợp tác góp phần tiếp thêm động lực phát triển mới của ASEAN, mở rộng quy mô thương mại, đầu tư và tăng tốc phát triển”, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng khẳng định vấn đề nâng cấp thể chế phải trở thành một trong những động lực tăng trưởng.
Một phụ nữ tạo dáng gần biểu tượng Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 59 tại Pasay, Manila, Philippines. - Sputnik Việt Nam, 1920, 25.07.2026
Uy tín Việt Nam ngày càng cao, thêm 4 nước gia nhập Hiệp ước quan trọng của ASEAN
Đây có thể là một trong những thay đổi quan trọng nhất của ASEAN trong giai đoạn mới khi chuyển từ mở rộng mạng lưới cam kết sang nâng cao chất lượng thực thi và mức độ hội nhập thực tế.

Động lực mới nằm ở công nghệ và các ngành giá trị cao

Nếu vốn và lao động là những động lực quan trọng của ASEAN trong giai đoạn trước, thì khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ quyết định sức cạnh tranh của khu vực trong giai đoạn tiếp theo.

“Để thực hiện mục tiêu phát triển dài hạn này được khẳng định trong Điều lệ ASEAN, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hợp tác nội bộ ASEAN, xác lập mô hình tăng trưởng mới toàn diện, bao trùm với đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Coi trọng đầu tư nghiên cứu và phát triển, phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ, khoa học - công nghệ, lao động nội bộ ASEAN để tạo động lực phát triển mới. Chú trọng phát triển các lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao như tài chính công nghệ, tài chính số, thương mại điện tử và dịch vụ chất lượng cao như y tế, giáo dục, bảo hiểm, viễn thông. Cần tham chiếu kinh nghiệm thành công của các nước tiên phong để rút ngắn thời gian thử nghiệm, giảm thiểu khoảng cách tụt hậu trong phát triển”, PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh.

Vấn đề không phải mỗi quốc gia phải tự xây dựng toàn bộ một hệ sinh thái công nghệ. Lợi thế của ASEAN nằm ở khả năng phân công và kết nối các thế mạnh khác nhau.
Một nước có thể mạnh về sản xuất bán dẫn, nước khác về thiết kế, logistics, tài chính, dữ liệu hoặc thị trường. Nếu những mắt xích này được kết nối, ASEAN có thể hình thành các chuỗi giá trị mà từng nền kinh tế riêng lẻ khó tạo ra.

“Coi trọng phát triển sâu các quan hệ thương mại và đầu tư nội bộ ASEAN, đa dạng hóa hình thức, phương thức và cơ chế hợp tác mới tinh gọn, hiệu quả, đơn giản, chuẩn hóa và bảo đảm lợi ích thỏa đáng của các bên. Đặc biệt coi trọng các mô hình hợp tác dựa trên các lĩnh vực mới về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo. Hợp tác phát triển các ngành công nghiệp mới và công nghệ lõi như chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng tái tạo, công nghiệp số và tài chính công nghệ, tài sản mã hóa, thương mại điện tử bền vững, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế ngầm, kinh tế tầm thấp. Cần đầu tư hoạch định lộ trình hợp tác sâu rộng, không ngừng và hiệu quả của ASEAN theo hướng giảm thiểu khía cạnh cộng đồng mang nặng tính khép kín, hướng tới mô hình liên minh có tính hiện đại và văn mình cao nhất”, chuyên gia đề xuất tập trung vào những ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng cao.

Nếu thực hiện được hướng đi này, cạnh tranh giữa các thành viên ASEAN có thể dần chuyển từ cạnh tranh để giành dự án sang cạnh tranh để nâng vị trí trong chuỗi giá trị.

Việt Nam và cơ hội từ mô hình tăng trưởng mới

Với Việt Nam, chuyển đổi mô hình tăng trưởng của ASEAN cũng mở ra một không gian phát triển mới.
Tấm năng lượng mặt trời và tuabin gió sản xuất ra điện - Sputnik Việt Nam, 1920, 25.06.2026
Việt Nam có thể trở thành “cứ điểm” sản xuất thiết bị điện gió của Nga tại ASEAN?
Các lĩnh vực như kinh tế số, công nghệ cao, logistics, tài chính và đổi mới sáng tạo có thể giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực. Thay vì chỉ coi ASEAN là thị trường xuất khẩu hoặc nguồn FDI, Việt Nam có thể hướng tới vai trò cung cấp công nghệ, dịch vụ, tài chính và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao cho khu vực.
Ở góc độ rộng hơn, cơ hội của mỗi thành viên gắn với khả năng tận dụng tốt hơn các nguồn lực bên ngoài mà vẫn củng cố năng lực nội tại.

“Mỗi thành viên ASEAN và cả ASEAN thống nhất cần triệt để tận dụng cơ hội mới và tiềm năng mở rộng hợp tác sâu sắc, đa dạng, toàn diện và gần như vô tận với các trung tâm kinh tế, tài chính, công nghệ, năng lượng, thị trường của các khu vực và thế giới để vừa phát huy năng lực tự chủ, độc lập, sáng tạo từng quốc gia cũng như nắm bắt kịp thời xu hướng phát triển rất nhanh của thế giới để không bị lạc hậu và tụt hậu quá xa trong phát triển”.

Mục tiêu cao hơn là kết nối Việt Nam vào mạng lưới tài chính ASEAN, trở thành một mắt xích trong quá trình luân chuyển vốn, công nghệ và dịch vụ chất lượng cao của khu vực. Đây cũng là cách Việt Nam đóng góp vào việc mở rộng vai trò trung tâm của ASEAN.

10.000 tỷ USD là bài toán không chỉ của tốc độ

Từ khoảng 4.000 tỷ USD năm 2025 lên 10.000 tỷ USD vào năm 2035 là một bước nhảy lớn. Theo tính toán của PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, ASEAN phải duy trì tốc độ tăng trưởng rất cao trong nhiều năm liên tiếp.
“Để vươn tới quy mô GDP 10 ngàn tỷ đô la Mỹ năm 2035 từ 4.000 tỷ đô la Mỹ năm 2025, ASEAN cần đạt tăng trưởng ít nhất 7,5-8% bình quân năm liên tiếp thậm chí có những bước phát triển đột phá. Hiện tại, thu nhập bình quân đầu người ASEAN khoảng 5.500 đô la Mỹ - mức thu nhập trung bình. Việc hướng tới thu nhập trung bình cao, ngang mức thu nhập bình quân thế giới 12 ngàn đô la Mỹ là cần thiết để tránh tụt hậu và không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Con số 7,5-8% cho thấy mục tiêu 10.000 tỷ USD không thể đạt được chỉ bằng việc duy trì tăng trưởng hiện nay. ASEAN cần tạo ra thêm năng lực sản xuất, nhưng quan trọng hơn là nâng chất lượng của chính năng lực đó.
TP. HCM - Sputnik Việt Nam, 1920, 10.07.2026
7 yếu tố giúp GDP bình quân đầu người Việt Nam có thể đạt 10.000 USD
Mục tiêu tăng trưởng vì thế không chỉ là mở rộng quy mô GDP. Nó còn gắn với yêu cầu thu hẹp khoảng cách phát triển và bảo đảm nhiều thành viên hơn có thể tham gia vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, như PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh với Sputnik:

“ASEAN kiên định tương lai thịnh vượng bao trùm, chính trị, an ninh bảo đảm, xã hội hài hòa, con người làm trung tâm, cơ hội phát triển tất cả mọi người được phát huy”.

Với ASEAN, 10.000 tỷ USD sẽ là phép thử đối với khả năng chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và mở rộng sản xuất sang một mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và liên kết sâu trong khu vực.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала