Việt Nam hết thời “tiền rẻ”, dư nợ tín dụng vượt 20,15 triệu tỷ đồng

© Depositphotos.com / Jamwayđồng Việt Nam
đồng Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 16.08.2026
Đăng ký
Thời kỳ “tiền rẻ” tại Việt Nam khó sớm quay trở lại, khi nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số ngày càng lớn, trong khi áp lực lạm phát, tỷ giá và chênh lệch giữa tín dụng với huy động vẫn hiện hữu. Đây là nhận định của ông Trần Ngọc Báu, CEO WiGroup, theo Vietnambiz.

Ba áp lực khiến “tiền rẻ” khó trở lại Việt Nam

“Tiền rẻ” (Cheap Money) là trạng thái vốn được cung ứng với chi phí thấp, thường gắn với chính sách tiền tệ nới lỏng và thanh khoản dồi dào.
Theo ông Trần Ngọc Báu - Nhà sáng lập, Giám đốc điều hành WiGroup, Việt Nam từng trải qua một chu kỳ như vậy trong gần một thập kỷ.
“Chu kỳ tiền rẻ kéo dài từ những năm 2012-2013 cho đến tận năm 2021 đã đi qua”, ông Báu nhận định tại talkshow “Data Talk | Macro Insight: Dòng tiền cuối năm sẽ chảy vào đâu?”, phát sóng ngày 9/8.
Theo ông, giai đoạn này được hỗ trợ bởi hai nguồn lực lớn. Một là dòng vốn nước ngoài dồi dào, qua quá trình trung hòa ngoại tệ đã đưa lượng tiền đồng đáng kể ra thị trường. Hai là dòng tiền nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước (KBNN) chuyển sang hệ thống ngân hàng thương mại.
Trong khoảng 2-3 năm, số dư tiền gửi KBNN tại các ngân hàng thương mại tăng từ khoảng 200.000 tỷ đồng lên hơn 700.000 tỷ đồng, góp phần tạo thanh khoản dồi dào và duy trì mặt bằng lãi suất thấp.
Tuy nhiên, điều kiện hiện nay đã thay đổi. Trước hết, nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số rất lớn. Theo ước tính của Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, hơn gấp đôi mức khoảng 17,4 triệu tỷ đồng của giai đoạn 2021-2025.
Vốn đầu tư toàn xã hội vì vậy phải tăng bình quân khoảng 16%/năm, trong khi tỷ lệ đầu tư/GDP cần nâng từ khoảng 33% lên khoảng 40%. Nhu cầu vốn tăng mạnh sẽ tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất, nhất là khi hệ thống ngân hàng vẫn là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. - Sputnik Việt Nam, 1920, 14.08.2026
Việt Nam: ‘Cơn đau đầu’ của NHNN khi tín dụng vượt tiền gửi gần 77 tỷ USD
Áp lực thứ hai đến từ lạm phát và tỷ giá. Biến động địa chính trị, giá dầu cùng môi trường lãi suất quốc tế khiến NHNN phải thận trọng khi vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Để lãi suất cho vay giảm bền vững, chi phí vốn huy động, lạm phát cơ bản và áp lực tỷ giá đều cần hạ nhiệt - những điều kiện khó đồng thời xuất hiện trong ngắn hạn.
Thứ ba là khoảng cách giữa tín dụng và huy động. Đến cuối tháng 6/2026, tiền gửi dân cư đạt 11,07 triệu tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm trước; tiền gửi tổ chức đạt 6,37 triệu tỷ đồng, tăng 3,09%.
Trong khi đó, dư nợ tín dụng đạt 20,15 triệu tỷ đồng. Chênh lệch tín dụng - huy động bằng VND đã vượt 2 triệu tỷ đồng. Tín dụng tăng nhanh hơn huy động khiến cạnh tranh nguồn vốn gia tăng, qua đó hạn chế khả năng giảm lãi suất đầu vào và đầu ra.
Theo SSI Research, nguồn vốn trên thị trường không hẳn quá thiếu nhưng “không còn rẻ”. Đây cũng là một trong những lý do khiến việc đưa lãi suất trở lại mặt bằng thấp của chu kỳ trước trở nên khó khăn.

Bài toán lãi suất

Theo ông Trần Ngọc Báu, lãi suất hiện ở mức cao do những yếu tố mang tính cấu trúc, thay vì một “cú giật” thanh khoản như năm 2022. Vì vậy, mặt bằng hiện tại có thể duy trì trong thời gian dài hơn.
Agriseco dự báo mặt bằng lãi suất mới có thể kéo dài đến hết năm 2027, thậm chí sang năm 2028. Sau thời điểm này, khi các dự án đầu tư công bước vào giai đoạn hoàn thành, quyết toán và dòng tiền quay trở lại nền kinh tế, lãi suất mới có thêm điều kiện giảm dần. Dù vậy, ông Báu cho rằng lãi suất cũng khó tăng quá cao.
“Dù vậy, mức lãi suất huy động tầm 7-8% hiện tại là đủ để cân bằng về mặt chính sách bởi nếu tăng trên 10%, NHNN bắt buộc phải can thiệp vì nó sẽ tạo ra sự đổ vỡ hệ thống không cần thiết. Cuộc đua lãi suất tàn phá kinh tế, kéo theo sự suy giảm kinh tế kéo dài nhiều năm. Do đó, không ai muốn lãi suất quá cao và quá lâu”, ông Báu đánh giá.
Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM. - Sputnik Việt Nam, 1920, 11.08.2026
Thủ tướng Việt Nam triệu tập cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước và các nhà băng
Theo CEO WiGroup, hai nguồn lực có thể giúp cải thiện thanh khoản và giảm sức ép lãi suất là vốn nước ngoài và tiền nhàn rỗi của KBNN. Tuy nhiên, dòng vốn nước ngoài trong 1-2 năm tới chưa được kỳ vọng tạo ra thay đổi lớn.
Với nguồn tiền KBNN, Bộ Tài chính đã đề xuất tăng tính linh hoạt đối với tỷ lệ tiền nhàn rỗi được gửi tại ngân hàng thương mại thay vì giới hạn trần 50%. Nếu được triển khai, nguồn tiền này có thể bổ sung thanh khoản và giảm áp lực huy động của các ngân hàng, song quá trình hoàn thiện và thẩm thấu chính sách cần thời gian.
Trong bối cảnh đó, “tiền rẻ” khó trở lại đơn thuần bằng việc hạ lãi suất điều hành. Khi nền kinh tế cần lượng vốn ngày càng lớn nhưng tín dụng đã tăng nhanh hơn huy động, dư địa giảm chi phí vốn sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng thu hút vốn nước ngoài, luân chuyển hiệu quả nguồn lực công và phát triển các kênh vốn ngoài hệ thống ngân hàng.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала