Thông điệp cứng rắn từ NHNN khi lãi suất cho vay tại Việt Nam cao nhất nhì ASEAN

© AFP 2023 / Hoang Dinh NamNhững người đang đi xe máy qua trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở trung tâm thành phố Hà Nội
Những người đang đi xe máy qua trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở trung tâm thành phố Hà Nội - Sputnik Việt Nam, 1920, 15.06.2026
Đăng ký
TS Phạm Xuân Hoè, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng mặt bằng lãi suất tại Việt Nam hiện thuộc nhóm cao nhất ASEAN và có nhiều nguyên nhân mang tính cấu trúc khiến lãi suất khó giảm sâu.

5 nguyên nhân khiến lãi suất khó giảm

Tại Talkshow "1 triệu tỷ đồng nợ xấu ngân hàng: Vì sao lãi suất cho vay khó giảm sâu?" do VTC tổ chức, các chuyên gia đã phân tích nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất tại Việt Nam vẫn ở mức cao so với nhiều nước trong khu vực.
Theo số liệu được đưa ra tại chương trình, trong khi lãi suất cho vay tại Thái Lan phổ biến ở mức 2-3,5%/năm, Malaysia 2,5-4%/năm, Indonesia 4,5-6,5%/năm, Philippines 5-7%/năm, Singapore 1,4-3%/năm và Trung Quốc khoảng 2-4%/năm, thì tại Việt Nam phổ biến ở mức 5,5-8,5%/năm, thậm chí một số ngân hàng đã vượt 9%/năm.
Phong bao lì xì (mừng tuổi) in hình đồng tiền Việt Nam - Sputnik Việt Nam, 1920, 27.05.2026
Nhiều ngân hàng tăng lãi suất trên 10%/năm bất chấp lệnh của Ngân hàng Nhà nước
Theo chuyên gia, có 5 nguyên nhân chính khiến lãi suất khó giảm về mức tương đương các nước trong khu vực. Thứ nhất là áp lực lạm phát. Việt Nam vẫn theo đuổi mục tiêu lạm phát 4-4,5%, trong khi giá năng lượng, chi phí vận tải, logistics và sản xuất vẫn tạo áp lực lên mặt bằng giá cả. Để duy trì lãi suất thực dương và giữ chân dòng tiền gửi, các ngân hàng buộc phải duy trì lãi suất huy động ở mức tương đối cao.
Thứ hai, nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Đến hết quý I/2026, dư nợ tín dụng đã vượt 19 triệu tỷ đồng, trong khi tổng tiền gửi khoảng 16 triệu tỷ đồng. Cùng với đó, hệ thống ngân hàng đang đối mặt với tình trạng mất cân đối kỳ hạn khi dư nợ trung và dài hạn chiếm khoảng 47% tổng dư nợ, nhưng nguồn vốn huy động từ một năm trở lên chỉ chiếm khoảng 20%. Theo ông Hoè, sự lệch pha này làm gia tăng rủi ro thanh khoản và tạo áp lực duy trì lãi suất ở mức cao.
Thứ ba là rủi ro nợ xấu. Quy mô nợ xấu hiện vẫn vào khoảng 1 triệu tỷ đồng, buộc các ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng, qua đó làm tăng chi phí vốn và hạn chế khả năng giảm lãi suất cho vay. Thứ tư là áp lực tỷ giá. Theo chuyên gia, cơ quan điều hành luôn phải cân đối giữa lãi suất VND và tỷ giá USD/VND. Nếu chênh lệch lãi suất không đủ hấp dẫn, áp lực lên tỷ giá sẽ gia tăng, vì vậy việc duy trì lãi suất VND ở mức hợp lý vẫn là yêu cầu cần thiết để ổn định đồng nội tệ.
Cuối cùng là đặc điểm tiết kiệm của người dân. Khoảng 80% tiền gửi hiện có kỳ hạn dưới một năm, trong khi ngân hàng phải cung ứng lượng lớn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Theo tính toán của TS Phạm Xuân Hoè, chênh lệch giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn của hệ thống từng lên tới khoảng 5 triệu tỷ đồng, khiến chi phí vốn khó giảm mạnh trong ngắn hạn.
Đánh giá về triển vọng lãi suất trong quý II và quý III, TS Phạm Xuân Hoè cho rằng việc Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thanh khoản là cần thiết nhưng chưa đủ để kéo mặt bằng lãi suất giảm nhanh.
Theo ông, cơ chế hỗ trợ thanh khoản chủ yếu thông qua tái cấp vốn dựa trên các tài sản đủ điều kiện như trái phiếu Chính phủ hoặc các giấy tờ có giá được chấp nhận. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng nắm giữ đủ các tài sản này, đặc biệt là nhóm ngân hàng quy mô nhỏ.
“Những ngân hàng nhỏ thường không có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư vào trái phiếu Chính phủ. Vì vậy, dù có cơ chế hỗ trợ thanh khoản, áp lực huy động vốn trên thị trường vẫn còn rất lớn”, Nhịp sống thị trường dẫn lời ông phân tích.
Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP.HCM. - Sputnik Việt Nam, 1920, 04.02.2026
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bơm ròng mạnh nhất 10 năm
Về triển vọng thời gian tới, chuyên gia cho rằng dư địa giảm lãi suất còn phụ thuộc nhiều vào diễn biến kinh tế và địa chính trị toàn cầu.
“Tôi không dùng từ hạ lãi suất mà dùng từ đưa lãi suất về mức hợp lý. Chúng ta chưa thể kỳ vọng lãi suất thấp ngang mặt bằng ASEAN khi cấu trúc thị trường tài chính vẫn phụ thuộc nặng vào ngân hàng, rủi ro hệ thống còn cao và nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn trong khi nhu cầu cho vay trung, dài hạn rất lớn”, ông nhấn mạnh.
Theo TS Phạm Xuân Hoè, mức lãi suất hợp lý phải được đặt trong bối cảnh cụ thể của nền kinh tế khi hệ thống ngân hàng vẫn chịu áp lực thanh khoản, doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính cao và môi trường kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn.
Ông dẫn dự báo của IMF và World Bank cho thấy tăng trưởng kinh tế thế giới có xu hướng giảm khoảng 0,15-0,2 điểm phần trăm, trong khi áp lực lạm phát vẫn hiện hữu. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, các cú sốc bên ngoài, đặc biệt là lạm phát nhập khẩu và biến động giá năng lượng, sẽ tiếp tục tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất trong nước. Đối với người dân có tiền nhàn rỗi, chuyên gia cho rằng trong bối cảnh kinh tế còn nhiều bất ổn, điều quan trọng nhất là ưu tiên bảo toàn tài sản trước khi nghĩ đến việc tối đa hóa lợi nhuận.

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất

Theo Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1, từ quý IV/2025 đến nay, thị trường tiền tệ xuất hiện nhiều diễn biến bất lợi. Thanh khoản có thời điểm gặp khó khăn, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay duy trì ở mức cao, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.
Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp nhằm ổn định thị trường tiền tệ, góp phần giảm mặt bằng lãi suất và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Đáng chú ý, tại Thông báo số 117/TB-NHNN về kết luận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại cuộc họp ngày 9/4/2026, các tổ chức tín dụng được yêu cầu từ ngày 10/4/2026 giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên so với mức lãi suất công bố trong giai đoạn 20/3-31/3/2026, đồng thời giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
Tuy nhiên, qua công tác thanh tra, giám sát, Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 cho biết vẫn còn một số vấn đề cần lưu ý trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng. Cơ quan này yêu cầu các ngân hàng thực hiện nghiêm các chỉ đạo về giảm mặt bằng lãi suất; bảo đảm công khai, minh bạch trong niêm yết và áp dụng lãi suất; không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức hoặc áp dụng các cơ chế khiến lãi suất thực tế cao hơn mức công bố.
Vàng thoi - Sputnik Việt Nam, 1920, 26.01.2026
Vàng vượt 174 triệu đồng/lượng: Ngân hàng Nhà nước lý giải nguyên nhân
Đồng thời, các tổ chức tín dụng phải kiểm soát chặt chẽ các chương trình ưu đãi lãi suất, cơ chế cộng lãi suất và các hình thức huy động vốn khác nhằm tránh cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh; tăng cường kiểm tra nội bộ, kiểm soát rủi ro, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định về lãi suất và huy động vốn.
Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng chủ động cân đối nguồn vốn, kiểm soát chênh lệch kỳ hạn giữa huy động và cho vay, tiết giảm chi phí hoạt động để tạo dư địa tiếp tục giảm lãi suất cho vay, đồng thời tăng cường kiểm soát nợ quá hạn, nợ nhóm 2 và nợ xấu nhằm nâng cao an toàn hệ thống.
Tin thời sự
0
Để tham gia thảo luận
hãy kích hoạt hoặc đăng ký
loader
Phòng chat
Заголовок открываемого материала