https://kevesko.vn/20260720/viet-nam-gdp-tang-818-vi-sao-mot-bo-phan-nguoi-dan-van-chua-thay-de-tho-43385588.html
Việt Nam: GDP tăng 8,18%, vì sao một bộ phận người dân vẫn chưa thấy “dễ thở”?
Việt Nam: GDP tăng 8,18%, vì sao một bộ phận người dân vẫn chưa thấy “dễ thở”?
Sputnik Việt Nam
Theo Bộ Tài chính, GDP của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 8, 18%, mức cao nhất kể từ năm 2011 đến nay và thuộc nhóm các nền kinh tế có tốc độ... 20.07.2026, Sputnik Việt Nam
2026-07-20T18:00+0700
2026-07-20T18:00+0700
2026-07-21T02:57+0700
việt nam
gdp
tăng trưởng kinh tế
kinh tế
thu nhập
fdi
xuất nhập khẩu
đầu tư
người tiêu dùng
sản xuất
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/07/14/43385254_0:192:2532:1616_1920x0_80_0_0_4ca095769558e72368a502b007bbcb80.jpg
Kinh tế Việt Nam có nhiều điểm sáng6 tháng đầu năm 2026, GDP của Việt Nam tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7,63% của nửa đầu năm 2025. Đây là mức tăng đáng chú ý trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động.Động lực tăng trưởng đến từ nhiều khu vực. Công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%.Tăng trưởng không chỉ nằm ở khu vực sản xuất lớn hay xuất khẩu. Bán buôn, bán lẻ tăng 9,67%; vận tải, kho bãi tăng 10,18%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%.Tuy nhiên, vai trò của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn rất lớn. Tính đến cuối tháng 5/2026, khu vực FDI chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Khối này không chỉ tạo ra nhiều việc làm, thúc đẩy sản xuất mà còn kéo theo các ngành dịch vụ phát triển.Triển vọng kinh tế Việt Nam cũng được các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực. Ngân hàng Phát triển châu Á dự báo Việt Nam tăng trưởng 7,2% năm 2026 và 7,0% năm 2027, sau mức 8,0% của năm 2025. ADB đồng thời lưu ý các rủi ro từ môi trường thương mại toàn cầu và bất ổn bên ngoài.Khoảng cách giữa GDP và “túi tiền” của người dânTrong sáu tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 9 triệu đồng/tháng, tăng 717.000 đồng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, trên thực tế khoảng cách khá lớn giữa các nhóm lao động. Thu nhập bình quân của lao động nam là 10,1 triệu đồng/tháng, trong khi lao động nữ là 7,8 triệu đồng. Lao động thành thị đạt 10,6 triệu đồng/tháng, còn khu vực nông thôn là 7,9 triệu đồng.Cũng theo chuyên gia trên, giá cả cũng là yếu tố quan trọng. CPI bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 4,38%; lạm phát cơ bản tăng 4,12%. Trong quý II, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,77%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,04%; giáo dục tăng 3,38%.Sức mua vẫn tăng, nhưng áp lực với hộ kinh doanh vẫn lớnTheo Báo cáo Tình hình Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2026 đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy thị trường trong nước tiếp tục phục hồi.Nhưng nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng còn 7,3%, gần tương đương mức 7,4% của cùng kỳ năm 2025. Chi tiết này cho thấy người dân vẫn chi tiêu nhiều hơn, nhưng mức tăng thực tế không mạnh như con số 12,9%.Mặc dù hiện tượng trả mặt bằng kinh doanh tại các thành phố lớn có diễn ra, tuy nhiên việc này không phản ánh toàn cảnh bức tranh. Được biết, Việt Nam hiện có gần 111.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 22,5% so với cùng kỳ.Để tăng trưởng gần hơn với người dânViệt Nam tiếp tục thực hiện chính sách giảm thuế giá trị gia tăng Nghị quyết 204/2025/QH15 và Nghị định 174/2025/NĐ-CP, từ 10% xuống 8% với nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ đến hết năm 2026.Từ ngày 1/1/2026, thuế thu nhập cá nhân cũng được điều chỉnh theo Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 khi mức giảm trừ gia cảnh tăng lên 15,5 triệu đồng/tháng cho người nộp thuế và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc.Những chính sách này cho thấy nỗ lực hỗ trợ sức mua và giữ lại thêm thu nhập cho người dân. Trong bối cảnh còn nhiều biến động, mức tăng trưởng cao của Việt Nam là tín hiệu tích cực, phản ánh sức bật của nền kinh tế.Khi các động lực từ sản xuất, xuất khẩu, đầu tư công và dịch vụ tiếp tục lan tỏa sâu hơn vào thị trường lao động, doanh nghiệp nhỏ và tiêu dùng nội địa, thành quả tăng trưởng sẽ ngày càng hiện diện rõ hơn trong đời sống của từng gia đình.
https://kevesko.vn/20260720/tang-truong-viet-nam-vuot-ky-vong-standard-chartered-du-bao-gdp-tang-95-nam-2026-11-nam-2027-43384602.html
https://kevesko.vn/20260709/kinh-te-viet-nam-di-nguoc-toan-chau-a-gdp-co-the-dat-72-43266478.html
https://kevesko.vn/20260718/su-that-ve-viec-viet-nam-lai-bat-dau-nhap-khau-lao-dong-nuoc-ngoai-43372318.html
https://kevesko.vn/20260712/tu-nam-1990-chi-27-nen-kinh-te-vuot-bay-thu-nhap-trung-binh-viet-nam-hoa-rong-the-nao-43296078.html
https://kevesko.vn/20260719/my-gay-cang-thang-thue-quan-voi-viet-nam-nhung-xuat-nhap-khau-van-co-the-dat-1000-ty-usd-43377251.html
https://kevesko.vn/20260720/adb-viet-nam-can-doi-mo-hinh-tang-truong-de-tranh-bay-thu-nhap-trung-binh-43383981.html
https://kevesko.vn/20260703/kinh-te-viet-nam-but-toc-nhung-bai-toan-10-van-o-phia-truoc-43202602.html
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
2026
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
tin thời sự
vn_VN
Sputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
https://cdn.img.kevesko.vn/img/07ea/07/14/43385254_62:0:2471:1807_1920x0_80_0_0_ae94a761d69f6ec6c656e95fbac89952.jpgSputnik Việt Nam
moderator.vn@sputniknews.com
+74956456601
MIA „Rossiya Segodnya“
Taras Ivanov
https://cdn.img.kevesko.vn/img/921/33/9213389_0:189:511:700_100x100_80_0_0_45fe7a54df37496801dfdab04a46c8a3.jpg
việt nam, gdp, tăng trưởng kinh tế, kinh tế, thu nhập, fdi, xuất nhập khẩu, đầu tư, người tiêu dùng, sản xuất, công nghệ, bộ tài chính vn, quan điểm-ý kiến, tác giả
việt nam, gdp, tăng trưởng kinh tế, kinh tế, thu nhập, fdi, xuất nhập khẩu, đầu tư, người tiêu dùng, sản xuất, công nghệ, bộ tài chính vn, quan điểm-ý kiến, tác giả
Kinh tế Việt Nam có nhiều điểm sáng
6 tháng đầu năm 2026, GDP của Việt Nam tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7,63% của nửa đầu năm 2025. Đây là mức tăng đáng chú ý trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động.
Động lực tăng trưởng đến từ nhiều khu vực. Công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%.
Tăng trưởng không chỉ nằm ở khu vực sản xuất lớn hay xuất khẩu. Bán buôn, bán lẻ tăng 9,67%; vận tải, kho bãi tăng 10,18%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%.
Tuy nhiên, vai trò của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn rất lớn. Tính đến cuối tháng 5/2026, khu vực FDI chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Khối này không chỉ tạo ra nhiều việc làm, thúc đẩy sản xuất mà còn kéo theo các ngành dịch vụ phát triển.
“Tuy nhiên, để các doanh nghiệp trong nước thực sự được "hưởng lợi" từ họ, chúng ta cần phải tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, cung cấp được nhiều hàng hóa hơn và thu về giá trị cao hơn”, chuyên gia phân tích thị trường Lưu Hiền nhận định với Sputnik.
Triển vọng kinh tế Việt Nam cũng được các tổ chức quốc tế đánh giá tích cực. Ngân hàng Phát triển châu Á dự báo Việt Nam tăng trưởng 7,2% năm 2026 và 7,0% năm 2027, sau mức 8,0% của năm 2025. ADB đồng thời lưu ý các rủi ro từ môi trường thương mại toàn cầu và bất ổn bên ngoài.
Khoảng cách giữa GDP và “túi tiền” của người dân
Trong sáu tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 9 triệu đồng/tháng, tăng 717.000 đồng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, trên thực tế khoảng cách khá lớn giữa các nhóm lao động. Thu nhập bình quân của lao động nam là 10,1 triệu đồng/tháng, trong khi lao động nữ là 7,8 triệu đồng. Lao động thành thị đạt 10,6 triệu đồng/tháng, còn khu vực nông thôn là 7,9 triệu đồng.
“Nói “thu nhập bình quân tăng” là đúng, nhưng chưa đủ. Người làm trong ngành có năng suất cao, có hợp đồng ổn định hoặc gắn với sản xuất xuất khẩu có thể thấy thu nhập cải thiện rõ hơn. Ngược lại, lao động tự do, người làm dịch vụ nhỏ, hộ kinh doanh cá thể hoặc nhóm có thu nhập cố định có thể thấy mức cải thiện chậm hơn”, ông Hiền cho biết thêm.
Cũng theo chuyên gia trên, giá cả cũng là yếu tố quan trọng. CPI bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 4,38%; lạm phát cơ bản tăng 4,12%. Trong quý II, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,77%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,04%; giáo dục tăng 3,38%.
“Với nhiều gia đình, phần thu nhập tăng thêm có thể bị “ngốn” bởi những khoản chi bắt buộc như tiền nhà, tiền ăn, tiền học và chi phí dịch vụ, cũng tăng. Đối với nhóm người có thu nhập trung bình và thấp, cảm giác “tiền về túi”, thường không rõ rệt”, ông Hiền nhận định.
Sức mua vẫn tăng, nhưng áp lực với hộ kinh doanh vẫn lớn
Theo Báo cáo Tình hình Kinh tế - Xã hội 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng sáu tháng đầu năm 2026 đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy thị trường trong nước tiếp tục phục hồi.
Nhưng nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng còn 7,3%, gần tương đương mức 7,4% của cùng kỳ năm 2025. Chi tiết này cho thấy người dân vẫn chi tiêu nhiều hơn, nhưng mức tăng thực tế không mạnh như con số 12,9%.
“Nói dễ hiểu, hóa đơn tăng không đồng nghĩa người tiêu dùng mua được nhiều hàng hóa hơn. Một phần mức tăng đến từ giá cả. Đây cũng là lý do khiến cảm nhận của doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể khác với số liệu tổng hợp. Một số ngành thiết yếu vẫn giữ được doanh thu. Du lịch, vận tải, lưu trú và ăn uống có phục hồi. Nhưng các mô hình phụ thuộc vào chi tiêu không thiết yếu, mặt bằng đắt đỏ hoặc lượng khách trực tiếp vẫn có thể gặp khó”, ông Hiền chỉ ra.
Mặc dù hiện tượng trả mặt bằng kinh doanh tại các thành phố lớn có diễn ra, tuy nhiên việc này không phản ánh toàn cảnh bức tranh. Được biết, Việt Nam hiện có gần 111.700 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 22,5% so với cùng kỳ.
“Có thể thấy, doanh nghiệp mới vẫn gia nhập, nhưng áp lực sàng lọc cũng rất lớn. Với nhiều hộ kinh doanh, vấn đề không chỉ là sức mua. Tiền thuê mặt bằng, chi phí nguyên liệu, nhân công, điện nước, lãi vay, cạnh tranh từ thương mại điện tử và sự thay đổi thói quen tiêu dùng đều ảnh hưởng đến khả năng duy trì cửa hàng. Mô hình thương mại điện tử hiện được nhiều doanh nghiệp mới lựa chọn để giảm chi phí”, ông Hiền phân tích thêm.
Để tăng trưởng gần hơn với người dân
Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách
giảm thuế giá trị gia tăng Nghị quyết 204/2025/QH15 và Nghị định 174/2025/NĐ-CP, từ 10% xuống 8% với nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ đến hết năm 2026.
Từ ngày 1/1/2026, thuế thu nhập cá nhân cũng được điều chỉnh theo Nghị quyết 110/2025/UBTVQH15 khi mức giảm trừ gia cảnh tăng lên 15,5 triệu đồng/tháng cho người nộp thuế và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc.
Những chính sách này cho thấy nỗ lực hỗ trợ sức mua và giữ lại thêm thu nhập cho người dân. Trong bối cảnh còn nhiều biến động, mức tăng trưởng cao của Việt Nam là tín hiệu tích cực, phản ánh sức bật của nền kinh tế.
Khi các động lực từ
sản xuất, xuất khẩu, đầu tư công và dịch vụ tiếp tục lan tỏa sâu hơn vào thị trường lao động, doanh nghiệp nhỏ và tiêu dùng nội địa, thành quả tăng trưởng sẽ ngày càng hiện diện rõ hơn trong đời sống của từng gia đình.