Khách Nga trở lại Việt Nam đông chưa từng có: Bài toán nhân lực không thể chờ đợi thêm

© Ảnh : Phan Tiên Minh - TTXVN
Đăng ký
Chưa bao giờ kể từ sau đại dịch, những chuyến bay từ Nga tới Việt Nam lại dày đặc như hiện nay. Nhưng khi dòng khách đang tăng với tốc độ kỷ lục, ngành du lịch lại đối mặt với một nghịch lý khác: càng nhiều du khách Nga, càng thiếu người có thể phục vụ họ bằng chính tiếng Nga.
Lượng khách Nga đến Việt Nam đang bùng nổ và xác lập kỷ lục mới. Chỉ trong 4 tháng đầu năm, Việt Nam đã đón hơn 500.000 lượt khách Nga, vượt qua cả con số kỷ lục của năm 2019 và chính thức trở thành một trong những thị trường du lịch quốc tế tăng trưởng mạnh nhất.
Sự phục hồi mạnh mẽ đang mở ra vô vàn cơ hội cho du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn nhân lực nói tiếng Nga lại trở thành điểm nghẽn lớn nhất đối với khả năng phục vụ và cạnh tranh của ngành du lịch.
Vượt ra khỏi khái niệm “thiếu hụt thông thường”
Mùa hè năm nay, thị trường Nga đang cho thấy sức phục hồi vượt kỳ vọng. Riêng Công ty Anex Việt Nam dự kiến phục vụ khoảng 180.000 lượt khách đến Khánh Hòa, với hơn 200 chuyến bay mỗi tháng từ 19 thành phố của Nga.
Cùng với sự trở lại của các chuyến bay charter, nhu cầu về lưu trú, tham quan, mua sắm, giải trí và các dịch vụ đi kèm cũng tăng lên nhanh chóng. Trong khi đó, nguồn nhân lực tiếng Nga lại không tăng tương ứng.
Ông Bùi Quốc Đại, Phó Giám đốc (PGĐ) điều hành Công ty Anex Việt Nam (Anex Tour), cho rằng tình trạng thiếu hụt nhân lực hiện nay đã ở mức báo động và đã vượt ra khỏi khái niệm “thiếu hụt thông thường”. Nếu không có giải pháp linh hoạt hơn, cơ hội từ thị trường này có thể bị bỏ lỡ.
“Trước đây, khi lượng khách Nga vào mùa cao điểm khoảng 60.000 khách mỗi tháng thì nguồn nhân lực đã khá mỏng. Hiện nay lượng khách đã tăng lên khoảng 100.000–120.000 khách mỗi tháng. Bây giờ có thể nói nhân lực tiếng Nga là “siêu mỏng”, vị PGĐ chia sẻ với Sputnik.
Thiếu cả hệ sinh thái dịch vụ tiếng Nga
Theo ông, áp lực không chỉ nằm ở số lượng hướng dẫn viên có khả năng sử dụng tiếng Nga, mà còn nằm ở toàn bộ chuỗi dịch vụ tiếp xúc trực tiếp với du khách.
Từ điều hành tour, lễ tân khách sạn, nhân viên chăm sóc khách hàng, tư vấn dịch vụ, bán hàng cho đến các vị trí tiếp xúc trực tiếp với du khách đều đang thiếu người có khả năng sử dụng tiếng Nga.
Đó là lý do khiến những doanh nghiệp như của ông Đại buộc phải xoay xở bằng mọi nguồn lực hiện có để duy trì chất lượng phục vụ trong bối cảnh lượng khách tăng nhanh.
Điều đang thiếu, nếu nhìn rộng, là cả một hệ sinh thái dịch vụ tiếng Nga có khả năng kết nối du khách với các dịch vụ du lịch tại Việt Nam.
Thị trường phục hồi nhanh hơn hệ thống đào tạo
Tình trạng thiếu hụt hiện nay có vẻ chỉ là hệ quả của sự phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn nằm ở độ trễ của quá trình đào tạo nhân lực.
Trong nhiều năm trước Covid-19, Nga là một trong những thị trường quốc tế quan trọng nhất của du lịch Việt Nam. Nhưng khi các đường bay bị gián đoạn và lượng khách suy giảm, nhu cầu học tập và theo đuổi nghề nghiệp liên quan đến tiếng Nga cũng giảm theo.
Nhiều lao động chuyển sang các ngành nghề khác. Số lượng sinh viên lựa chọn tiếng Nga cũng không còn đông như trước. Đến khi thị trường phục hồi, khoảng trống nhân lực bắt đầu lộ rõ.
"Khi thị trường phát triển nhanh thì nhu cầu nhân lực tăng rất mạnh. Tuy nhiên quá trình đào tạo lại không thể diễn ra trong thời gian ngắn. Đây là bài toán mà ngành du lịch đang phải đối mặt hiện nay. Khi thị trường phát triển nhanh thì nhu cầu nhân lực tăng rất mạnh. Tuy nhiên quá trình đào tạo lại không thể diễn ra trong thời gian ngắn. Đây là bài toán mà ngành du lịch đang phải đối mặt hiện nay”, ông Bùi Quốc Đại chỉ ra nghịch lý với Sputnik.
Ông Bùi Quốc Đại cho biết, tình trạng thiếu hụt không chỉ giới hạn ở một địa phương hay một doanh nghiệp. Đây không còn là vấn đề cục bộ, mà là một khoảng trống mang tính hệ thống trong cấu trúc nhân lực du lịch của Việt Nam.
"Các doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục tìm kiếm và đào tạo thêm người mới, nhưng thực tế lực lượng trẻ tham gia vào ngành không nhiều. Những đơn vị hoạt động lâu năm trong thị trường khách Nga hiện nay gần như đều đang trong tình trạng thiếu người", PGĐ Công ty Anex Việt Nam nêu thực trạng.
Theo vị PGĐ, những người trong ngành đã nhìn thấy nguy cơ thiếu hụt nhân lực từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của thị trường luôn nhanh hơn đáng kể so với tốc độ đào tạo.
Khoảng cách giữa nhu cầu tức thời và khả năng cung ứng dài hạn đang khiến doanh nghiệp rơi vào thế bị động.
Có việc làm, có thu nhập, nhưng vẫn thiếu người
Trong khi doanh nghiệp liên tục tìm người thì nguồn cung lao động mới lại rất hạn chế. Theo ông Đại, mức thu nhập khởi điểm của nhân sự tiếng Nga hiện nay cao hơn hẳn so với mặt bằng chung.
Nhiều lao động mới vào nghề hiện đã có thể nhận mức thu nhập từ 14-16 triệu đồng mỗi tháng. Với những vị trí có kinh nghiệm hoặc chuyên môn cao, thu nhập có thể đạt 30 triệu đồng hoặc hơn.
Từ thực tế tuyển dụng, ông cho biết có những doanh nghiệp chỉ sở hữu đội ngũ vài chục nhân sự nhưng khối lượng công việc phát sinh đòi hỏi lực lượng lớn hơn nhiều lần.
"Tôi chỉ lấy ví dụ riêng tại Khánh Hòa thôi. Có những đơn vị chỉ có khoảng 10-15 người trong khi nhu cầu thực tế cần tới hàng trăm người để đáp ứng thị trường. Vấn đề hiện nay không phải là không có việc làm mà là có việc nhưng không có đủ người đáp ứng", đại diện doanh nghiệp dẫn chứng.
Doanh nghiệp lo “đứt trải nghiệm”
Bài toán hiện nay không chỉ nằm ở việc “đào tạo thêm người mới”, mà quan trọng hơn là cơ chế khai thác nguồn lực sẵn có nhưng chưa được sử dụng hiệu quả.
Ở góc độ doanh nghiệp, vấn đề nhân lực không đơn thuần là câu chuyện tuyển dụng, mà liên quan trực tiếp đến năng lực cạnh tranh điểm đến.
Trong ngành du lịch, đặc biệt với nhóm khách đi theo đoàn và lưu trú dài ngày, rào cản ngôn ngữ có thể trở thành yếu tố quyết định trải nghiệm tổng thể.
Lợi thế về tài nguyên hay cảnh quan tự nhiên không còn đủ để tạo khác biệt. Một điểm đến có thể hấp dẫn về cảnh quan và chi phí, nhưng nếu thiếu khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ của du khách, trải nghiệm dịch vụ sẽ bị ảnh hưởng ngay lập tức.
“Không thể chỉ dựa vào tài nguyên du lịch hay lợi thế tự nhiên. Chất lượng phục vụ mới là yếu tố giữ chân khách và tạo ra lợi thế lâu dài. Nếu không giải quyết được bài toán nhân lực thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của du khách”, ông Bùi Quốc Đại nhấn mạnh.
Cần cơ chế linh hoạt hơn
Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra cho du lịch Việt Nam không chỉ là đáp ứng nhu cầu trước mắt của mùa cao điểm, mà còn là xây dựng lại một hệ sinh thái nhân lực ngoại ngữ bền vững hơn.
Theo ông Đại, nếu chỉ kỳ vọng vào nguồn sinh viên tốt nghiệp chính quy, ngành du lịch sẽ khó giải quyết được bài toán nhân lực trong ngắn hạn.
Ông đề xuất mở rộng cách tiếp cận bằng việc tận dụng các nguồn lực xã hội đã có sẵn. Đó là những người Việt Nam từng học tập hoặc làm việc tại Nga; những người sử dụng được tiếng Nga nhưng đang làm trong các lĩnh vực khác; du học sinh mới trở về nước; sinh viên làm thêm hoặc những lao động từng làm việc với thị trường Nga nhưng đã chuyển nghề. Đây là nguồn lực có thể bổ sung nhanh hơn rất nhiều so với việc chờ đào tạo một lứa mới từ đầu.
Tuy nhiên, theo ông, một trong những rào cản hiện nay là nhiều người có khả năng làm việc thực tế nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện hành nghề theo quy định.
“Nhiều người có khả năng làm việc thực tế, nhưng lại phải mất khá nhiều thời gian để hoàn thiện các điều kiện theo quy định. Có những trường hợp chỉ cần một thời gian ngắn đào tạo bổ sung là có thể tham gia công việc, nhưng quy trình để có đầy đủ chứng chỉ và điều kiện hành nghề lại kéo dài từ một đến hai năm. Trong khi đó, nhu cầu của doanh nghiệp là nhu cầu hiện tại. Nếu chờ đủ thời gian đào tạo theo lộ trình thông thường thì phải vài năm nữa mới có thêm lực lượng mới. Khi đó thị trường có thể đã thay đổi rất nhiều”, vị PGĐ Anex Việt Nam nêu bất cập hiện nay.
Ngoài nguồn lao động trong nước, ông Đại cho rằng Việt Nam cũng nên cân nhắc tận dụng lực lượng lao động quốc tế sử dụng tiếng Nga đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam.
Theo ông, hiện có nhiều người nước ngoài sở hữu kinh nghiệm làm việc với khách Nga, mong muốn tham gia thị trường du lịch Việt Nam một cách hợp pháp nhưng vẫn gặp không ít khó khăn về thủ tục.
"Có những trường hợp muốn làm việc hợp pháp, muốn đăng ký đầy đủ và thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ nhưng vẫn gặp khó khăn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ. Theo tôi, nếu có một cơ chế phù hợp hơn thì chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng được nguồn lực này trong giai đoạn thiếu hụt nhân sự hiện nay”, ông cho biết.
Tuy nhiên, để các nguồn lực này thực sự được đưa vào sử dụng hiệu quả, cần có cơ chế linh hoạt hơn trong đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và công nhận năng lực thực tế, thay vì chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống đào tạo chính quy vốn cần nhiều thời gian để tạo ra một thế hệ nhân lực mới.
“Để đào tạo một người từ đầu đến khi có thể làm nghề bài bản thì cần khá nhiều thời gian. Có những người mất hai năm, ba năm hoặc lâu hơn để hoàn thiện đầy đủ kỹ năng và điều kiện cần thiết. Trong khi đó, thị trường lại thay đổi rất nhanh. Nếu tất cả đều phải đi theo một lộ trình cứng nhắc thì sẽ rất khó đáp ứng nhu cầu thực tế. Chúng ta cần nhìn vào điều kiện của mình, nhìn vào nhu cầu của thị trường và tìm ra cách làm phù hợp thay vì áp dụng những mô hình không phù hợp với thực tế Việt Nam”, đại diện doanh nghiệp nêu ý kiến.
Bên cạnh đó, ông Đại cũng cho rằng cần phải đẩy mạnh việc quảng bá cơ hội nghề nghiệp liên quan đến tiếng Nga và thị trường Nga. Bởi, cơ hội dành cho nhân lực tiếng Nga hiện nay là rất rõ ràng.
Với khoảng 250 triệu người sử dụng tiếng Nga trên thế giới và xu hướng phục hồi của dòng khách từ thị trường khách SNG, nhu cầu nhân lực nhiều khả năng sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới.
“Theo tôi, trước hết phải giúp các bạn nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp thực sự. Nhiều bạn trẻ hiện nay chưa hình dung được rằng học tiếng Nga có thể làm được những công việc gì, có cơ hội phát triển như thế nào và thu nhập ra sao. Nếu làm tốt công tác định hướng thì sẽ có thêm nhiều người lựa chọn học tiếng Nga hoặc làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến thị trường Nga. Ngoài ra, cần tạo điều kiện để sinh viên có cơ hội tiếp xúc với doanh nghiệp từ sớm, được trải nghiệm môi trường làm việc thực tế, được thực tập và tích lũy kinh nghiệm ngay trong quá trình học. Thị trường khách Nga đang phát triển, nhu cầu nhân lực đang tăng lên. Nhưng để tận dụng được cơ hội đó thì cần có năng lực ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng làm việc thực tế”.
Nếu khoảng cách giữa tốc độ tăng trưởng khách và tốc độ phát triển nhân lực tiếp tục kéo dài, lợi thế hiện tại có thể nhanh chóng chuyển thành điểm yếu trong cạnh tranh khu vực.
Ngược lại, nếu giải được “nút thắt” tiếng Nga, một trong những mắt xích quan trọng của thị trường khách quốc tế, Việt Nam không chỉ duy trì được đà phục hồi hiện tại, mà còn có thể củng cố vị thế của mình như một điểm đến chiến lược trong khu vực đối với nhóm khách Nga và cộng đồng nói tiếng Nga trong những năm tới.





